A BRIEF INTRODUCTION TO JAPANESE GARDEN


As a student of garden design, I am introduced to many types of garden styles, from the very formal Italian garden, to the Renaissance French garden, to the informal natural style English garden. These are styles based on Europeans sensibility with the philosophy rooted in Christianity. The Japanese gardens, on the other hand, are rooted in eastern religious and philosophical ideas and therefore are quite different in principle.



History

The art of garden making was imported to Japan from Korea and China, perhaps in the six century AD, along with many other aspects of continental culture: writing, architecture, and urban planning to name but a few. Because of the ancient custom of using stones and ponds for prayers, however, the ancient Japanese people must have found the new Chinese/Korean ideas very familiar. It is easy to believe that, while embracing these newly imported ideas, the early Japanese garden designers also maintained as an essential element of their garden design the ancient, animistic perception that natural objects, like stones and ponds, are not inanimate but shelter a spirit.





During the Heian period (794-1185), gardens were built within the urban residences of the aristocracy. There were several interesting aspects of the design of these gardens - the creation of paradisaical imagery, the use of geometry, and the interweaving of poetic images. Of the paradisaical images created in the gardens, the most prevalent was that of the Pure Land - the heaven presided over by Amida Buddha. This was recreated in the garden by building an island (which represented the Pure Land) in a pond (an image of the vast 'ocean' that separates profane mortals from heaven). An arched bridge connected the island to shore, implying the potential of salvation for all.

In the Muromachi period (1333-1568), a new form of garden developed in the Zen Buddhist temples and warrior residences, in which a rarefied garden was built into a relatively small courtyard, associated with a sitting room. These gardens are properly called kare-san-sui, which means dry-mountain-water, revealing the essence of the garden as a scenic image of mountains and water, created without the use of real water.

The Momoyama period (1568-1600) is a brief transitional time between the medieval era and the Edo period. It was during the Momoyama period that the rustic tea ceremony, known as wabi-cha, developed. A new form of garden developed at this time that acted as an entrance to the tea-house. This garden is not a garden in the terms we usually think. It is intended as a place of passage - a stage on which one performs the physical and spiritual preparations required before entering the tea-house. By passing through a series of subtly designed thresholds in the garden, one is caused to release the daily cares of the world and enter a state of mind consonant with the understated aesthetics of wabi-cha.

japanese_garden

The Edo period (1600-1868) is known as a time when the culture of the common man came to the fore, especially the dynamic culture of the urban merchants. The merchants also developed at that time a new form of architecture that included both residence and shop. The facade of the building was typically very narrow, in part due to taxes that were levied according to the width of the facade. Conversely, the building was quite long and deep, being broken into several sections with a shop up front by the street, and one or two residences for an extended family to the rear. In between the sections there were small spaces left open for light and air. Over the course of time, as the financial status of the owners grew, gardens based on the design elements of the earlier tea gardens were built into these tiny spaces. The Edo period, being a time of relative peace, allowed the daimyo to amass great wealth, and equally large estates, on which they built sprawling gardens in the tea garden style. Many generations added to the original design, creating complex gardens that revealed various scenes in layers.


Japanese Stroll Garden


The modern time. As gardens around the world evolve, the traditional Japanese garden has become a popular style. By applying the modern twist on the traditional themes the modern Japanese garden has become a thing of great beauty combining history with modern style.



kurisu japanese garden design portland

Basic styles

There are three basic styles: The hill and pond; the flat gardens and; the tea gardens.

Hill and pond garden is the basic style brought over from China. A pond fronts a hill (or hills). The pond can be an actual pond or represented by raked gravel. This style always denotes a mountain area and usually uses plants indigenous to the mountains. Stroll gardens are always hill and pond.


The flat style garden stems from the use of open, flat spaces in front of temples and palaces for ceremonies. These are often done in the karesansui style. This is a very Zen style (good for contemplation) and is representative of a seashore area (using the appropriate plants) Courtyards are always flat style gardens.

The design of the tea garden is the only time that function overrides form. The Roji (dewy path) is the focus of the garden along with the water basin and the gates. This is the exception to the rule. Plantings should be simple to the point of sparse. Always strive for a rustic feeling.

Philosophy

In order to appreciate and understand the Japanese garden, the viewer should consider nature as a picture frame into which the garden, or the man- made work of art, is inserted. It is in this way the garden also helps the visitor understand his surroundings. Simplicity is a key tenet of Zen. Embracing the everyday, unadorned things in life is to embrace truth. The cleanliness of simple form is a repeated motif in Japanese art of gardening. Asymmetry is intrinsic to Buddhist thought. There is no perfection in the world; imbalance is what creates all movement and energy. The exact center is never occupied, not in gardens or paintings. The main purpose of a Japanese garden is to bring serenity and nature into our busied lives. They remind us of the natural landscape, but in fact they are carefully controlled by man. Ultimately, the purpose of a Japanese garden is to enhance the quality of our life.


WORKS CITED

Barty, Phillips. Garden Design: The essential reference guide for all aspects of gardening. Paragon Publishing, 2001

Henry, Koch. (Photo credits). University of Guelph’s Web Site. Retrieved November7, 2007

http://www.uoguelph.ca/arboretum/gardenNA/gardenJG.htm.

Kinsaku, Nakane. Kyoto Gardens. Hoikusha Publishing Co. Japan, 1965

Japanese Garden. The Helpful Gardener Website. Retrieved november7, 2007

http://www.helpfulgardener.com/japanese/2003/

Japanese Gardens. Google Images Search. Retrieved november7, 2007

http://google.ca/images?q=japanese+gardens...


Garden of Fine Arts

Bảo Lộc địa phương chí


Lịch sử - truyền thống Bảo Lộc

Bảo lộc, trước đây là một vùng đất rộng lớn từng được biết đến với tên gọi B'lao, là địa bàn sinh sống chủ yếu của người dân tộc Mạ. Ngay từ giữa thế kỷ XIX, trong quá trình mở mang bờ cõi nhà Nguyễn đã thiết lập các phủ, huyện, các thuộc để quản lý các vùng

đất này. Vào những năm 1 877. Nguyễn Thông đã từng dâng sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du Sơn quốc nhưng không thành (trong đó có vùng đất Di linh). 16 năm sau, năm 1893. bác sĩ Alexandre Yersin khảo sát vùng cao nguyên Lâm Viên đã tìm ra Đà Lạt và cùng lúc phát hiện ra vùng đất B’lao. Vùng đất B’lao đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác sớm cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt. Năm 1 899 một phái đoàn người Pháp do ông Ernest Outrey chỉ huy, mở cuộc thảm hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này (Djiring) với Bình Thuận (Phan Thiết).
Ngày 1/11/1899, toàn quyền Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) trong đó bao gồm vùng đất B’lao và đặt tỉnh lỵ tại Djiring. Đến năm 1 905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ và Djiring, B’lao lại sát nhập vào tỉnh Bình Thuận. 15 năm sau đó, năm 1920 Tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) lại được tái lập với 3 đại lý hành chính : 3 quận B’lao (Bảo Lộc), quận Djiring (Dilính) và Quận Dran Fyan (Đơn Dương). Tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn đặt tỉnh lỵ tại Djiring (Di Linh). Lúc này địa giới B’lao rất rộng, bao gồm một phần đất thuộc quận Tánh Linh (Bình Thuận), một phần đất thuộc Quận Định Quán (Long Khánh).Cùng thời gian này, năm 1916 Đà Lạt trở thành tỉnh ly của LangBiang. Cho đến năm 1 950, Bảo Đại tách tây nguyên thành lập Hoàng triều cương thổ trực thuộc quốc trưởng, bộ máy hành chính B’lao vẫn giữ chức trách một đại lý hành chính của chính quyền thuộc địa.
Đến ngày 1 9/5/1 958, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, sau đó ngày 30/6/1958 tách quận Dran (Đơn dương) ra khỏi tỉnh Lâm Đồng sát nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng còn 2 quận : B’lao đổi thành Bảo Lộc và Djiring thành Di Linh. Địa giới tỉnh, quận vào thời gian này cũng có sự điều chỉnh. Quận Bảo Lộc cắt một phần đất giao cho Tánh Linh của tỉnh Bình Tuy, một phầùn giao cho quận Định Quán của tỉnh Long Khánh. Quận Bảo Lộc còn từ Madaguoil (Dahuoai hiện nay) trở lên. Cũng từ thời điểm năm 1958 trở về sau, mãi cho đến năm 1979. địa danh B’lao không còn trên các văn bản hành chính. Ngày 30/11/1958 Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng. Tên gọi Bảo Lộc chính thức thay thế tên B’lao từ ngày 19/2/1959. Công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.
Cư dân ở vùng đất B’lao Bảo Lộc ban đầu chủ yếu là người dân tộc bản địa Mạ, Kơ Ho, trong đó người Mạ chiếm đa số. Địa vực của người Mạ từ xa xưa đã ở trong vùng Cát Tiên - Dateh trở xuống phía Đồng Nai. Khi có vương quốc Phù Nam. người Mạ mới thiên cư lên vùng Cao nguyên Di Linh địa phận Bảo Lộc, Bảo Lâm ngày nay. Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và ý thức chung. Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng dân tộc Mạ đã chia thành các nhóm địa phương như Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Trung. Mạ Ngăn được quan niệm là người Mạ chính tông. Họ có địa bàn cư trú ở vùng lưu vực sông Đa Dâng, nằm về phía Bắc B’lao, trên địa vực các xã Lộc Bắc, Lộc Lâm, thị trấn Dateh thuộc các địa phương Bảo Lộc, Bảo Lâm, Đa tẻh. Mạ Tô cư trú ở vùng thượng lưu sông La Ngà, nằm trên cao nguyên Bảo Lộc, gần gũi với người Kơ Ho hơn cả. Mạ Krung là nhóm người Mạ ở vùng bình sơn nguyên. Họ có địa bàn cư trú từ Tây nam Bảo Lộc đến vùng Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Mạ Xốp là nhóm người Mạ sống ở vùng đất phiến (Xốp có nghĩa là đất phiến) thuộc địa phận các xã Lộc Bắc, một phần của huyện Da Tẻh. Trong xã hội truyền thống. Canh tác rẫy là phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu của đồng bào dân tộc Mạ. Quá trình canh tác rẫy của người Mạ gắn liền với nhiều lễ nghi nông nghiệp để cầu mong cho mùa màng tươi tốt.Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mỗi gia đình người Mạ chưa phát triển. họ thường nuôi lợn, dê. bò. trâu. gà vịt chủ yếu là để giết thịt trong các lễ hiến sinh, chưa dùng trâu bò làm sức kéo trong nông nghiệp như dân tộc Srê, Chu Ru. Thủ công nghiệp là nghề phụ trong hầu hết các gia đình người Mạ. Phổ biến nhất là nghề đan lát đồ dùng bằng mây tre lá. Nghề dệt vải còn thô sơ nhưng hoa văn dệt trên nền vải khá đặc sắc. Đây là một trong những nét nổi bật của người Mạ. Làng cổ truyền của người Mạ là một công xã nông nghiệp, một đơn vị kinh tế - xã hội mang nặng tính chất tự cấp tự túc gần như biệt lập với nhau. Những thành viên trong làng thường có quan hệ huyết thống với nhau theo dòng cha hoặc có quan hệ hôn nhân. Người Mạ sinh sổng trong những căn nhà sàn và nhiều thế hệ gia đình thường sống trong những căn nhà dài. Đứng đầu làng (buôn) là chủ làng hay chủ rừng, cùng với các gia trưởng hợp thành bộ máy tự quàn của làng truyền thống.

Người Mạ theo chế độ phụ quyền, một vợ một chồng. Người con trai đến tuổi trưởng thành. thông qua người mai mối đến nhà gái để hỏi vợ, nhưng tàn dư của chế độ mẫu hệ ởû đây vẫn còn tồn tại ít nhiều. Cũng giống như người Kơ Ho, người Mạ coi thần Nđu là vị thần sáng tạo, nhưng gần gũi và quan trọng hơn hết đối với người Mạ vẫn là những vị thần nông nghiệp như thần lúa, thần rừng, thần núi, thần lửa... Ngoài các nghi lễ nông nghiệp như lễ cúng hồn lúa, lễ cúng cơm mới, người Mạ còn tổ chức các lễ hiền sinh, lớn nhất là lễ đâm trâu, một nghi lễ có từ rất xa xưa trong cộng đồng người Mạ cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây nguyên. Xưa kia lễ này được tiến hành mỗi năm một lần. những buôn làng gần nhau tụ họp lại cùng tổ chức lễ đâm trâu, mở rượu cần cùng nhau ăn uống. Bên cạnh việc bảo lưu những giá trị văn hóa vật thể đặc sắc dân tộc Mạ còn giữ gìn một kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian rất phong phú với nhiều truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, gian dao nhiều nhạc cụ cổ truyền phong phú như đàn đá, chiêng...

.............................

Cư dân người kinh ởû B’lao vào thời kỳ ban đầu hầu như không đáng kể. Mãi đến năm 1930, B’lao mới chỉ có khoảng 8 gia đình người kinh. Năm 1936 có 20 gia đình. Môi trường dần được cải thiện nên công nhân từ các nơi đến lập nghiệp ngày càng đông,nhất là người bắc sau khi đã mãn hợp đồng ở Cămpuchia không về xứ mà tìm lên B’lao... Năm 1930 Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập tại Công Hinh (B’lao) một Trung tâm thực nghiệm Nông học rộng khoảng 1.000 Ha (sau trở thành Trường Quốc gia Nông Lâm Mục vào năm 1955) Quốc lộ 20 chính thức được khai trương vào tháng 7 năm 1932...Năm 1938 đường bộ từ Sài gòn lên Đà Lạt qua đèo B’lao được hoàn chỉnh, từ đó đã tạo nên sức thu hút khá lớn dân cư vùng lân cận và kể cả việc tuyển mộ công nhân. Những năm sau đó hệ thống các đồn điền chè đã mọc lên khá tập trung tại khu vực Bảo Lộc... Năm 1940 tiếp nhận thêm 20 gia đình. năm 1942, tiếp nhận thêm 80 gia đình. Những hộ này được bố trí tập trung tại khu vực trung tâm thực nghiệm nông học và các đồn điền trà. Nhìn chung, trong thời kỳ 1945 - 1954, xây dựng cơ bản trên đất Lâm Đồng không đáng kể do cuộc chiến ngày càng bất lợi cho người Pháp...ở các vùng Djiring. B’lao, việc xây dựng hạ tầng phát triển đơn điệu, ít được đầu tư...đường giao thông chỉ là những con đường đất từ trung tâm thực nghiệm đến các đồn điền trà lân cận... Đến tháng 9/1954 một sổ lớn đồng bào di cư được đưa đến định cư nâng tổng số dân lên đến 15.000 người. Sau đợt di cư, B’lao có khoảng 50 cơ sở trồng trà và đồng bào đến định cư đã lập thêm 6 làng : Tân Phát, Tân Thanh, Thánh Tâm. Tân Hà, Tân Bùi. Lam Sơn, sau này thành 5 xã. Cho đến năm 1957 dân số B’lao đã tăng nhanh, lên đến 37.832 nhân khẩu, trong đó người dân tộc là 16.517 người. Đến trước năm 1975 số dân B’Lao có 76.000 người, trong đó có 27.000 người dân tộc, đa số là người Mạ. Năm 1979 có 77.513 người; năm 1989 có 128.587 người; năm 1999 có 135.701 người. Cơ sở hạ tầng ở Bảo Lộc chỉ được phát triển ở mức độ từ sau năm 1958, sau khi dời tỉnh lỵ từ Di linh về Bảo Lộc, trong đó có thể thấy một số công trình sau : Tòa hành chính tỉnh xây dựng và hoàn thành năm 1959; chợ cũ nằm gần Quốc lộ 20 bị cháy năm 1959 được xây dựng lại tại khu vực mới hiện nay hoàn thành vào năm 1 961 nhà máy đèn Bảo lộc xây dựng năm 1957, nhà máy nước xây dựng năm 1962; 1960 bưu cục chính thức Bảo lộc được xây dựng. Từ năm 1963, bộ mặt Bảo Lộc đã khang trang hơn sau gần 4 năm xây dựng. Hệ thống đường nội thị bắt đầu được trải nhựa. Trong năm 1965, ở đây đã tiến hành sửa chữa và mở thêm một số tuyến đường từ trung tâm thị xã tới các xã như đường Thiện Lập, Tân Phát, Tân Rai, đường liên ấp Lam Sơn - Thiện Lập, đường Konhinđa, đườngThanh Hương, Thanh Xuân...Sân bay Bischenée được sửa chữa tu bổ năm 1964, sân bay Lộc Phát xây dựng năm 1966 phục vụ mục đích quân sự...

Trước năm 1 975. nhìn chung kinh tế của Bảo Lộc phát triển chủ yếu là ngành sản xuất chế biến chè. khai thác gỗ và lâm sản.Với ưu thế có một lịch sử khá lâu đời của cây chè, Bảo lộc có mấy chục nông trướng, đồn điền chè lớn nhỏ, vài chục cơ sở chế biến chè trên địa bàn hàng năm cung cấp một sản lượng chè đáng kể cho thị trường trong và ngoài nước. Các ngành nghề sản xuất khác như chăn nuôi gia súc.gia cám, trồng dâu nuôi tằm, trồng và chế biến cà phê, hoạt động tiểu thủ công nghiệp khác chưa phát triển mạnh mẽ do nguyên nhân chiến tranh song cũng cho thấy những tiềm năng triển vọng của nó vào thời gian sau này.

Hoạt động văn hóa và thiết chế văn hóa trên địa bàn Bảo Lộc trước 1975 hầu như chưa có gì. Những năm 1958 - 1960, ở Bảo lộc đã hình thành 01 rạp hát tư thiết kế bằng gỗ mang tên người chủ Lâm Đô nằm ở địa bàn phường B’lao ngày nay, bên cạnh quốc lộ 20, chủ yếu đón các gánh hát cải lương ở Sai gòn về biểu diễn phục vu.. 01 sân tennis ở gần rạp hát chủ yếu cho công chức giải trí. Về sau vào những năm 1970 một rạp chiếu phim mang tên Hoàng Huê có sức chứa 500 người được xây dựng ở khu chợ mới,trên đường Lê Hồng Phong, gần trung tâm văn hóa ngày nay được coi là thiết chế văn hóa giải trí duy nhất ởû Bảo Lộc bấy giờ. Ngoài ra còn có một số cơ sở in typô của tư nhân, vài nhà sách đáp ứng nhu cầu của địa phương.
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975. Bảo Lộc lần lượt tách thành huyện Bảo Lộc và huyện Đa Huoai vào ngày 14/3/1979 theo Quyết định số 116/QĐ của Hội đồng Chính phủ. Lúc này huyện Bảo Lộc có 14 xã và 01 thị trấn B’Lao. 15 năm sau, ngày 11/7/1994 Chính phủ ra Quyết định số 65/CP chia huyện Bảo Lộc thành 2 đơn vị hành chính : Thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm. Thị xã Bảo lộc ngày nay là một trong sổ 11 huyện, thành, thị xã thuộc tỉnh Lâm Đồng, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế. chính trị, văn hóa, công nghiệp xếp vào vị trí thứ hai của tỉnh Lâm Đồng sau thành phố Đà Lạt. Thị xã Bảo Lộc nằm ởû phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, trên cao nguyên Di linh – Bảo Lộc, ở độ cao 800 mét so với mặt biển, gắn với trục quốc lộ 20 nối liền thành phố Hồ Chí Minh và Bảo Lộc; phía Bắc. phía Đông và phía Nam giáp huyện Bảo Lâm; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đa Huoai. Với diện tích tự nhiên 232.4 km2, Thị xã Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính gồm 6 phường (Phường 1, phường 2, phường B’Lao, Lộc Phát. Lộc Tiến, phường Lộc Sơn) và 5 xã : Lộc Nga, Lộc Châu, Lộc Thanh. Đại Lào, xã ĐamBri.

Bảo Lộc có khí hậu quanh năm mát mẻ. không quá lạnh, cũng không quá nóng. nhiệt độ trung bình 22 – 240C Bảo lộc có lượng mưa khá lớn (2.762 mm), không có tháng nào không có mưa. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, trung bình là 10,30C. Sương mù xuất hiện ở Bảo Lộc nhiều nhất tỉnh do độ ẩm cao, trung bình mỗi năm có 85 ngày có sương mù tập trung vào những tháng cuối mùa mưa.Bảo Lộc có nhiều thắng cảnh như đèo Bảo Lộc, thác Đam Bri, hồ Nam Phương. suối Đá Bàn, núi Đại Bình (S'pung)... cùng với những đồi trà thoai thoải xanh mượt mà làm cho Bảo Lộc càng thêm xinh tươi, trù phú.Về khoáng sản, Bảo Lộc có than nâu, than bùn. khoáng sản kim loại như quặng bôxít, đá xây dụng. đá ốp lát, sét gạch ngói. Riêng trữ lượng bôxít lớn đứng thứ hai trong cả nước, sau huyện Đak Nông (tỉnh Đak Lak).Hệ thống nước mặt của Bảo Lộc khá phong phú nhờ có hệ thống sông La Ngà (Da R'nga) và hệ thống suối Đại Bình là nguồn nước tưới cho nông nghiệp và nước phục vụ cho khu công nghiệp Đại Binh và Đại Lào trong tương lai.Thị xã Bảo Lộc quản lý 1.256 Ha đất có rừng và 2.00 Ha đất trống, trữ lượng gỗ ước tính 180.000 m3; phần lớn diện tích rừng của Bảo Lộc là rừng đặc dụng.Bảo Lộc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới biến thiên theo độ cao nên khí hậu ôn hòa, phù hợp với việc phát triển du lịch. nghỉ dường. Khí hậu và đất đai tại Bảo Lộc rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày.Bảo Lộc nằm trên luồng giao thông trao đổi hàng hóa giữa các vùng kinh tế trong tỉnh, và giữa Lâm Đồng với miền Đông nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long và nhất là thành phố Hồ Chí Minh. Đó là điều kiện thuận lợi để Bảo Lộc phát triển nhanh kinh tế hàng hóa, tiếp nhận nhanh những tiến bộ khoa học - công nghệ.
Cây chè có một lịch sử khá lâu đời trên 50 năm tại Bảo Lộc. đã khẳng định ưu thế tuyệt đối mặc dù có những bước thăng trầm nhất định do nhiều yếu tố khác nhau. Cho đến nay, cây chè ở Bảo Lộc vẫn tiếp tục phát triển về diện tích và sản lượng. Ở Bảo Lộc đã hình thành vùng sản xuất tập trung chuyên môn hóa cao gắn được sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước. Ngoài chè, cà phê ở Bảo Lộc giữ vị trí thứ tư sau Di Linh. Lâm Hà và Bảo Lâm, với diện tích 6.144 Ha, sản lượng 8.478 tấn nhân. Đây là cây có giá trị xuất khẩu, rất thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai của Bảo Lộc. Ngoài chè. cà phê, cây dâu là cây thế mạnh ở địa phương. Bảo lộc là địa phương có điều kiện để đưa ngành dâu tằm tơ trở thành ngành kinh tế kỹ thuật tiên tiến, có quy mô lớn, khép kín từ khâu nuôi tằm đến ươm tơ, dệt lụa.
Trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm ở Bảo Lộc cũng phát triển khá mạnh. Công nghiệp chế biến lâm sản, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp giấy cũng có bước phát triển. Đã hình thành cụm công nghiệp Lộc Sơn với sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp trong cả nước. Ngành dịch vụ du lịch, bưu chính viễn thông, Phát thanh truyền hình... phát triển rất mạnh. Toàn thị xã có 14 khách sạn. nhà nghỉ nhà trọ. có 1 trạm tiếp phát hình, 9 trạm truyền thanh của các xã phường.Hoạt động sự nghiệp giáo dục, y tế. văn hóa thông tin - thể dục thể thao không ngừng phát triển và từng bước xã hội hóa có hiệu quả. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sổng văn hóa được phát động trên địa bàn thị xã đã được sự hưởng ứng tích cực của tuyệt đại bộ phận nhân dân. Đã có 104/119 thôn khu phố phát động đăng ký xây dụng thôn khu phố văn hóa, trong đó đã có 26 thôn khu phố được tỉnh và thị xã công nhận thôn khu phố văn hóa. Hàng năm có trên 18.000 hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, trên 100 cơ quan doanh nghiệp, trường học đạt danh hiệu cơ quan đơn vị có đời sống văn hóa. Cơ sở hạ tầng : đường giao thông, hệ thống điện đường được nâng cấp không ngừng nhằm góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Bảo Lộc đang nỗ lực không ngừng để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế văn hóa xã hội,lập các thành tích chào mừng 10 năm thành lập thị xã đồng thời phấn đấu vươn lên trở thành đô thị loại 3 vào năm 2010.
Địa chí Lâm Đồng (NXB Văn hóa dân tộc)
Lịch sử truyền thống Đảng bộ Bảo Lộc
Trích

QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂÂN KINH TẾ XÃ HỘI THỊ XÃ BẢO LỘC

Thời kỳ 1996 - 2010

Hỏa Mù Chiến Tranh


Robert Strange McNamara từ trần ngày 6 tháng 7 hưởng thọ 93 tuổi. Ai đã xem bộ film The Fog Of War đều phải công nhận nhân vật này có một hấp lực đặc biệt. Đó là một bộ óc vào loại elite bật nhất của thế kỷ 20-'' an IBM machine with legs'' và là '' Kiến trúc sư '' của người Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam.Nhưng McNamara đã tự nhận mình là một war criminal và nước Mỹ là một nước bại trận. Tuy nhiên công lý vẫn chưa được thiết lập. Nhận định về con người phức tạp này thật không dễ, tuy nhiên qua The Fog Of War thấy sự nổ lực phân tích sự kiện lịch sử mà ông ta từng đóng vai trò nhân vật chinh, nhằm tìm ra những bài học .
Dưới đây là ''bài học'' số 11 có tên là You can't change human nature trong film tài liệu The Fog Of War của đạo diễn Erroll Morris; Xin dịch giới thiệu :
Bài học #11: Bản chất con người ta không thể thay đổi.
Chúng ta ai cũng có sai lầm và chúng ta biết mình mắc sai lầm. Tôi không biết có một người chỉ huy nào có thể nói một cách thành thật là mình chưa từng sai. Có mộtcụm từ đầy ý nghĩa là '' Hỏa Mù Chiến Tranh''.
'' Hỏa Mù Chiến Tranh'' có nghĩa là : chiến tranh rất phức tạp, vượt ngoài khả năng đầu óc để thấu hiểu mọi hoàn cảnh. Những phán đoán, những hiểu biết của chúng ta là thiếu sót, cho nên ta giết người không cần thiết.
Wilson đã từng nói: '' Ta chiến thắng cuộc chiến tranh này là để chấm dứt mọi cuộc chiến tranh" Tôi không quá ngây thơ hay quá đơn giản để tin là ta có thể loại bỏ chiến tranh. Chúng ta không thay đổi được gì bản chất con người ta trong thời đại này. Không phải chúng ta khong lý trí. Chúng ta lý trí, nhưng lý trí cũng có giới hạn.
Có mấy câu thơ của T.S. Eliot mà tôi rất thích :
Ta sẻ không ngừng khai phá
Và khi đến cuối đường khai phá
ta sẻ trở về nơi ta bắt đầu
và lần đầu tiên hiểu biết nơi này.

Vậy coi như là ta bắt đầu là từ đây.



Nguyên văn lời thoại trong phim là như sau :
.

McNamara explains the fog of war:

What “the fog of war” means is: war is so complex it’s beyond the ability of the human mind to comprehend all the variables. Our judgment, our understanding, are not adequate. And we kill people unnecessarily. Wilson said: “We won the war to end all wars.” I’m not so naive or simplistic to believe we can eliminate war. We’re not going to change human nature anytime soon. It isn’t that we aren’t rational. We are rational. But reason has limits.

McNamara, choking on emotion, shares the following in the last scene of the film:

There’s a quote from T.S. Eliot that I just love:

We shall not cease from exploring
And at the end of our exploration
We will return to where we started
And know the place for the first time.

Now that’s in a sense where I’m beginning to be.



Những cụm mây trắng

Không phải nhân dịp 30 tháng 4, nhưng tôi bổng nhớ tới một việcsảy ra hơn ba mươi năm về trướt. Lúc đó gia đình tôi đã về tới Sài Gòn sau hơn một tháng trời chạy giặc . Từ Bảo lộc lên Đà lạt, xuống Phang rang, ra Vũng tàu, tới Sài gòn. Đó là một cuộc đi '' đầy ấn tượng '' không thua gì cuộc vược biển vài năm sau đó. Ở Sài gòn, ba ngày trướt khi chiến tranh chấm dứt, ba tôi giắt tay tôi lên sân thượng căn nhà chúng tôi đang tạm trú, lúc đó tôi 11 tuổi. Theo ngón tay ba chỉ , chúng tôi nhìn bầu trời buổi xế chiều. Khi ấy có một chiếc máy bay bà già đang bay chậm chạp về hướng Biên hòa. Trời chiều nắng không gắt và có nhiều cụm mây trắng pình lớn như bông( như trong phim hoặc hình The Simpsons ) Rồi bổng nhiên có những lằn lửa đạn từ dưới đất bắn lên, và chiếc máy bay nhỏ bị trúng đạn, lửa và khói bốc ra từ đuôi. Nhưng chiếc máy bay vẫn bay lừ đừ về phía trướt như không có chuyện gì. Một lúc sau thì lửa tắt và khói đen xịt ra nhiều hơn. Và rồi có một vật gì đó bật ra từ thân máy: Người phi công nhảy dù. Nhưng sao vật đen cứ rơi mãi mà không bung dù ? Một lúc sau nữa lại có một anh phi công phóng ra. Lần này thì dù bung, và anh phi công đang rơi chậm chậm về phía những cụm mây trắng phình lớn. Tôi thật sự sung sướng nên bóp chặc tay ba, ngước mắt nhìn ba. Nhưng tôi chưa kịp nói gì thì ba tôi nói: ''hết film!'' rồi kéo tay tôi đi xuống. Trong khi bị ba lôi đi  tôi cũng kịp quay lại nhìn. Nếu trí nhớ không lầm thì anh phi công đã kịp rơi vào cụm mây trắng phình lớn.

Các bạn cũng có thể xem '' những cụm mây trắng pình lớn'' ở đây:
http://www.youtube.com/watch?v=hZwJ3BZ6gig

một bài thơ mưa(để minh họa cho một tấm hình)



Giọt Mưa Rơi


từ trời nhỏ xuống
ướt đời tha hương
mây khói nhớ thương
cháy trong hoi thở
tan trong hồn sầu
gục mặt cúi đầu
giấc say giấc tỉnh
nát nhầu ăn năn
tường trắng lặng câm
hình không thấy bóng
bóng không thấy hình
một mình ta đau

ngày ấy qua mau.




chunhat.

một bài thơ sau hai tháng vắng blog

Mới đó mà đã hai tháng kể từ entry cuối cùng Bơ và Bé . Ngày vui qua mau, và khi vui thì quên blog là chuyên đương nhiên, còn bây giờ trở lại blog cũng chỉ là để nhớ lại những ngày vui. Khi về Việt Nam mấy ngày đầu mất ngủ bởi vì nhiều cảm xúc và khác múi giờ, trước đó đi nhậu với mấy nhân vật, rồi lại lang thang rất khuya, rồi về căn phòng chật của một bạn mới quen, mệt mà vẩn mất ngũ. 5 giờ sáng ra ngồi ở chân cầu thang và nghĩ ngợi ra bài thơ này:

Quê Hương

Quê hương mùa gặt
những sân golfs em ngồi gãi
khi vắng khách những resorts
vết loét, bọn giàu mới, bọn tourists sex
siêu vi văn hóa net
muốn 'hot' phải show hàng
không muốn phục vụ thì đi chổ khác
vào đây không ai chú bác
một chai 'Ken', một khăn lạnh
em 19 tuổi, dạ năm thứ nhứt
tao bức xúc, mày bức xúc,
thằng ngồi bên kia dissident,
tham nhũng, đụt khoét, vấn đề là...

Xong chưa? thôi đi tăng hai.

SG, 12/2/2009

Thơ Trong Cầu Tiêu (để bảo vệ môi trường)

Jan 27, 2009
'Toilet poems' to save paper
TOKYO - POETRY in the loo can cut down on paper use too, says a Japanese group campaigning to save toilet paper as part of the country's battle against global warming.

Simply pasting a 'toilet poem' at the eye level of a person seated in the cubicle can help cut toilet paper use by up to 20 per cent, a study by the research centre Japan Toilet Labo showed.

'That paper will meet you only for a moment,' reads one poem.

'Fold the paper over and over and over again,' says another. Or just: 'Love the toilet.' Now the group is looking to have its posters displayed in 1,000 public toilets.

'We asked ourselves what we could do for the environment in the toilet?' said Ryusuke Nagahara of the Japan Toilet Labo. 'The answer is to save toilet paper and save water.'

Toilet paper use in Japan has been increasing in recent years, according to an industry body, possibly because of a rise in the number of public toilets, where people tend to use more paper.

'It's because it's free,' said an official at the Kikaisuki Washi Rengokai. 'At home, people are more inclined to scrimp.' -- REUTERS

TO NHỎ

NHỎ TO

Việt Nam là một đất nước nhỏ. Trong đất nước rất nhỏ đó có một cái thủ đô rất to (sau sáp nhập của Hà Tây).

Trong cái thủ đô rất to có những con đường rất nhỏ. Trên những con đường rất nhỏ lại có những ngôi biệt thự rất to.

Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ nhỏ. Những cô vợ nhỏ là của các ông quan to.

Các ông quan to xách những cái cặp rất nhỏ, trong những cái cặp rất nhỏ có những dự án rất to.

Những dự án rất to nhưng hiệu quả lại rất nhỏ. Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thoát thì rất to.

Thất thoát thì rất to nhưng trách nhiệm thì rất nhỏ …

giấc mơ Obama

Ông Barack Obama và vợ tại Washington DC ngày 18.01.2009


Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ nói với BBC rằng ông hy vọng quan hệ Việt - Mỹ trong nhiệm kỳ tổng thống Barack Obama sẽ được tiếp tục củng cố, mặc dù khó có sự kiện lớn trong năm 2009.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho BBC Việt ngữ ngày 16/01, ông Lê Công Phụng, cựu thứ trưởng ngoại giao, cũng nói Việt Nam không có ý định trở thành đồng minh của Mỹ, mà chỉ hợp tác với sự "tôn trọng và tin cậy lẫn nhau".


BBCVietnamese.com

Diễn văn nhậm chức của ông Obama

Thưa quốc dân,

Tôi đứng đây ngày hôm nay, cảm thấy thật khiêm nhường trước trách nhiệm trước mắt, biết ơn về sự tin cậy của quý vị, và nhớ về những hy sinh của tổ tiên. Tôi xin cảm ơn Tổng Thống Bush về những cống hiến của Ngài cho đất nước, về sự hào phóng và tinh thần cộng tác của Ngài trong quá trình chuyển giao này.

Bốn mươi tư công dân Mỹ đã tuyên thệ nhận chức tổng thống. Những từ ngữ được vang lên trong những thời thịnh vượng và thời bình. Và những lời tuyên thệ cũng thường vang lên trong lúc dông bão. Vào những thời khắc đó, nước Mỹ đã vượt qua, không chỉ đơn giản nhờ vào kỹ năng hay tầm nhìn của những người lãnh đạo, mà bởi Chúng Ta, Nhân Dân Mỹ đã có niềm tin vào lý tưởng của cha ông, theo đúng tinh thần của các văn bản lập quốc của chúng ta.

Niềm tin đó đúng trong quá khứ. Niềm tin đó phải đồng hành với thế hệ người Mỹ hiện nay.

Các thách thức nghiêm trọng

Chúng ta hiện đang trong giữa cuộc khủng hoảng mà ai ai cũng biết. Đất nước chúng ta đang trong thời chiến, chống lại một mạng lưới bạo lực và thù hận rộng khắp, một phần là hậu quả của thái độ tham lam, vô trách nhiệm của một số người, nhưng cũng là hậu quả của việc chúng ta đã thất bại, không có những lựa chọn khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nhà mất, việc không, kinh doanh đình đốn. Chi phí y tế thì quá tốn kém; chất lượng trường học khiến nhiều người thất vọng. Càng ngày càng có thêm bằng chứng cho thấy cách chúng ta sử dụng năng lượng càng khiến kẻ thù của chúng ta mạnh thêm trong lúc trái đất càng bị đe doạ thêm.

Đó là các chỉ dấu về cuộc khủng hoảng, tính theo dữ liệu và số liệu thống kê. Không đo đếm được cụ thể đến vậy, nhưng cũng không kém phần sâu sắc, đó là tâm trạng mất niềm tin trên toàn đất nước - một tâm trạng sợ hãi đeo đẳng rằng sự đi xuống của nước Mỹ là không thể tránh khỏi, và rằng thế hệ kế tiếp sẽ phải hạ bớt tầm nhìn.

Hôm nay, tôi xin nói với quý vị rằng các thách thức mà chúng ta đang đối diện là rất thật. Các thách thức đó rất nghiêm trọng và có nhiều. Các thách thức đó không thể xử lý được một cách dễ dàng hay trong một thời gian ngắn. Nhưng xin quý vị hãy biết rằng chúng sẽ được xử lý.

Ngày hôm nay, chúng ta tụ hội về đây bởi chúng ta đã lựa chọn hy vọng thay vì sợ hãi, cùng hướng tới một mục tiêu chung thay vì có xung đột và bất hòa.

Ngày hôm nay, chúng ta tới để tuyên bố chấm dứt những lời than vãn vụn vặt cùng những lời hứa hẹn dối trá, những lời tố cáo lẫn nhau cùng những lời nói giáo điều nhàm chán, những thứ đã bóp nghẹt nền chính trị của chúng ta quá nhiều.

Quốc gia dám chấp nhận rủi ro

Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như kinh thánh nói, đã tới lúc bỏ sang một bên những điều nông nổi. Đã đến lúc tái xác nhận tinh thần kiên nhẫn của chúng ta, nhằm chọn lựa một lịch sử tốt đẹp hơn, nhằm hướng tới món quà quý giá, ý tưởng cao đẹp vốn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: Chúa trao cho mọi người quyền được bình đẳng, quyền được tự do, mọi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc.

Trong khi tái khẳng định sự vĩ đại của dân tộc chúng ta, chúng ta hiểu rằng sự vĩ đại đó không bao giờ là thứ được cho không. Chúng ta đã phải giành lấy nó. Hành trình của chúng ta đi cho tới nay chưa bao giờ là một trong những con đường đi tắt hoặc một cái gì đó dễ dàng hơn. Đó không phải là con đường cho những người nhút nhát, cho những người hay ưa thích sự nhàn tản hơn là lao động, hay cho những người chỉ tìm kiếm những thú vui của sự giàu sang và nổi tiếng. Thay vào đó, chính những người dám chấp nhận hiểm nguy, những người lao động, những người làm ra các sản vật – mà một vài trong số họ là những người nổi tiếng nhưng thông thường hơn là những người đàn ông và đàn bà vô danh trong những lao động của họ - là những người đã đưa chúng ta vượt qua con đường dài đầy khó khăn gập ghềnh và dẫn chúng ta tới sự thịnh vượng và tự do.

Vì chúng ta, họ đã phải bươn chải khắp các đại dương mà trong tay chỉ có chút ít tư trang, của cải để mưu cầu một cuộc đời mới.

Vì chúng ta, họ đã phải vất vả lao động ở những công xưởng hà khắc và phải cất công định cư ở miền Tây; đã phải chịu đựng những trận đòn roi da và cấy cầy trên nền đất cứng.

Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg, Normandy và Khe Sanh.

Dấu ấn Mỹ

Hết lần này đến lần khác, những người đàn ông và đàn bà này đã tranh đấu, hy sinh và làm việc tới tận khi đôi bàn tay của họ trai sạm để chúng ta có thể có một cuộc sống tốt đẹp hơn, Họ đã nhìn thấy nước Mỹ lớn hơn tất cả những tham vọng cá nhân, lớn hơn tất cả những khác biệt về sự sinh thành, của cải và phe phái của chúng ta gộp lại.

Đây là hành trình chúng ta tiếp tục ngày hôm nay. Chúng ta vẫn là quốc gia thịnh vượng nhất, mạnh nhất trên trái đất. Các công nhân của chúng ta không hề làm việc kém hiệu quả hơn thời điểm cuộc khủng hoảng này bắt đầu. Trí óc của chúng ta không hề kém sáng tạo, hàng hoá và dịch vụ của chúng ta không hề kém cần thiết hơn tuần trước, tháng trước hay năm ngoái. Năng lực của chúng ta vẫn không hề bị sút giảm. Nhưng thời của sự bảo vệ những lợi ích hẹp hòi và lảng tránh những quyết định không mấy thú vị của chúng ta - thời đó chắc chắn đã trôi qua.

Bắt đầu ngày hôm nay, chúng ta phải tự mình đứng dậy, tự phủi bụi và bắt đầu trở lại công việc tái lập nước Mỹ. Bởi vì ở bất cứ nơi đâu chúng ta nhìn vào, chúng ta sẽ thấy có việc phải làm. Tình trạng kinh tế hiện nay đang kêu gọi chúng ta hành động, can đảm và mau lẹ, và chúng ta sẽ hành động – không chỉ để tạo ra những việc làm mới, mà còn để đặt một nền móng mới cho sự tăng trưởng. Chúng ta sẽ xây dựng cầu, đường, các lưới điện và đường dây kỹ thuật số để cung cấp cho thương mại và kết nối chúng ta lại với nhau. Chúng ta sẽ khôi phục khoa học ở vị trí đúng đắn của nó, sẽ sử dụng các điều kỳ diệu của công nghệ để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và hạ giá thành của nó. Chúng ta sẽ khai thác năng lượng từ mặt trời, từ gió và đất để cung cấp nhiên liệu cho xe hơi và vận hành các nhà máy của chúng ta. Và chúng ta sẽ chuyển các trường học, trường học phổ thông và đại học để đáp ứng các nhu cầu của một thời đại mới. Tất cả điều này chúng ta có thể làm. Tất cả những điều này, chúng ta sẽ làm.

Khôi phục niềm tin

Vào lúc này, đang có những người đặt ra các câu hỏi trước các tham vọng của chúng ta - những người này cho rằng hệ thống của chúng ta không thể kham nổi quá nhiều các kế hoạch. Trí nhớ của họ quá ngắn. Bởi vì họ đã quên rằng đất nước này đã làm được điều đó; điều mà những con người tự do, nam cũng như nữ, có thể đạt được khi trí tưởng tượng của mọi người được hòa trong một mục đích chung, điều cần thiết cho sự can đảm.

Điều mà những người hoài nghi không thể hiểu là mặt đất đang chuyển dịch dưới chân họ - là những luận điểm chính trị cũ kỹ vốn làm héo mòn chúng ta lâu nay, không còn có thể áp dụng được nữa. Câu hỏi chúng ta đặt ra hôm nay không phải là liệu chính phủ của chúng ta quá lớn hay quá nhỏ, nhưng mà là liệu nó có vận hành được hay không - liệu nó có thể giúp cho các gia đình tìm kiếm được việc làm với một đồng lương tử tế, một sự chăm sóc y tế mà họ có thể chi trả được hay tìm kiếm được một hưu bổng xứng đáng. Ở đâu mà câu trả lời là được, chúng ta dự kiến sẽ tiến tới. Ở đâu mà câu trả lời là không, các chương trình sẽ dừng lại.

Và ai trong số chúng ta đang quản lý những đồng đô-la công cộng sẽ phải thận trọng tính toán - để chi tiêu một cách khôn ngoan, phải thay đổi những thói quen xấu và phải làm công việc của chúng ta dưới thanh thiên bạch nhật – vì chỉ khi đó chúng ta mới có thể khôi phục được lòng tin hết sức quan trọng giữa người dân và chính phủ của họ.

Cũng không phải đó là câu hỏi đặt ra trước chúng ta rằng liệu thị trường là một lực lượng lành mạnh hay không. Sức mạnh của thị trường nhằm sản xuất ra của cải và mở rộng tự do là không gì sánh nổi, nhưng cuộc khủng hoảng này nhắc nhở chúng ta rằng nếu không có một con mắt thận trọng, thị trường có thể xoay chuyển và đi ra khỏi vòng kiểm soát - một quốc gia không thể thịnh vượng lâu dài khi nó chỉ tạo thuận lợi cho những người giàu có. Thành công của nền kinh tế của chúng ta đã luôn luôn dựa trên không chỉ quy mô của tổng sản phẩm quốc nội của chúng ta, mà còn dựa trên tầm vóc của sự thịnh vượng của chúng ta; dựa trên khả năng mở rộng cơ hội cho tất cả những người thiện ý, sẵn lòng – không xuất phát từ lòng từ thiện ban phát, mà còn bởi vì đó là con đường chắc chắn nhất đưa tới lợi ích chung của chúng ta.

Sẵn sàng dẫn dắt

Đối với công cuộc quốc phòng, chúng ta bác bỏ sự lựa chọn giữa an toàn và các lý tưởng của chúng ta. Những bậc cha ông khai quốc của chúng ta, vốn đã từng phải đương đầu với những hiểm nguy mà chúng ta hiếm khi có thể hình dung được, đã soạn thảo ra một bản hiến chương đảm bảo pháp trị và các quyền con người, một bản hiến chương đóng góp bằng máu của nhiều thế hệ. Những lý tưởng này vẫn tiếp tục thắp sáng trên thế giới, và chúng ta sẽ không từ bỏ chúng vì những điều không thích hợp.

Và do đó đối với tất cả các dân tộc và chính phủ khác đang theo dõi chúng ta hôm nay, từ các thủ đô lớn nhất tới ngôi làng nhỏ nơi cha tôi ra đời: quý vị biết rằng nước Mỹ là bạn bè với từng quốc gia, từng cá nhân dù là nam hay nữ, từng đứa trẻ, đang tìm kiếm tương lai hoà bình và phẩm giá, và chúng ta sẵn sàng để đi đầu một lần nữa.

Hãy nhớ rằng thế hệ cha anh chúng ta đã hạ gục chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, không chỉ bằng tên lửa và xe tăng mà bằng những liên minh vững chắc và bằng niềm tin bền bỉ. Lớp cha anh hiểu rằng chỉ sức mạnh không thôi sẽ không thể bảo vệ nổi chúng ta, và nó cũng không cho phép chúng ta làm những gì mình muốn. Các thế hệ trước hiểu rằng sức mạnh của chúng ta lớn mạnh dần là nhờ chúng ta đã sử dụng nó một cách cẩn trọng. Nền an ninh của chúng ta được xây dựng từ sự chính danh, từ sự gương mẫu, từ sự khiêm nhường và sự biết kiềm chế của chúng ta.

Chúng ta là những người gìn giữ di sản này. Được dẫn dắt bởi những nguyên tắc cơ bản này, một lần nữa chúng ta sẽ đương đầu được với các đe doạ mới, là các đe doạ cần được đối phó bằng những nỗ lực to lớn hơn - thậm chí là cả sự hợp tác to lớn hơn cùng và sự thông hiểu hơn giữa các quốc gia. Chúng ta sẽ bắt đầu chuyển giao một cách có trách nhiệm đất nước Iraq cho người dân Iraq, và sẽ vượt lên giành giật hòa bình vốn khó giữ tại Afghanistan. Cùng với bạn cũ thù xưa, chúng ta sẽ làm việc không ngừng nhằm giảm bớt đe dọa hạt nhân và đảo ngược tiến trình ấm nóng toàn cầu. Chúng ta sẽ không xin lỗi vì cách sống của chúng ta và không do dự khi bảo vệ lối sống này. Đối với những kẻ muốn đạt mục tiêu bằng cách khủng bố và giết người vô tội, thì các người hãy nghe đây: tinh thần của chúng ta mạnh hơn của các người, các người không thể bẻ gãy ý chí của chúng ta, các người không thể tồn tại lâu chúng ta, và chúng ta sẽ đánh bại các người.

Kỷ nguyên hoà bình

Chúng ta biết rằng di sản của chúng ta là sức mạnh chứ không phải là sự yếu đuối. Chúng ta là một quốc gia của người Thiên Chúa Giáo và người Hồi Giáo, người Do Thái giáo và người Ấn giáo, và của cả những người không tôn giáo. Chúng ta được hình thành bởi các ngôn ngữ và văn hóa hội về từ khắp nơi trên trái đất. Từng đã trải qua vị đắng của nội chiến và tệ phân biệt màu da, từng trỗi dậy từ thời kỳ đen tối đó để trở nên mạnh mẽ hơn, đoàn kết hơn, chúng ta tin rằng rồi sẽ đến ngày nỗi thù nghịch cũng qua đi, làn phân ranh giữa các bộ tộc sẽ không còn; khi thế giới này trở nên nhỏ bé hơn, lòng nhân hậu sẽ ngự trị và Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò mở ra một kỷ nguyên mới, hoà bình.

Đối với thế giới Hồi giáo, chúng ta tìm hướng đi tới mới, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau. Đối với các nhà lãnh đạo đang muốn gieo rắc xung đột hay đổ lỗi cho phương Tây gây ra những tệ nạn trong xã hội của họ - quý vị hãy hiểu rằng người dân sẽ đánh giá dựa trên những gì quý vị xây chứ không phải những gì quý vị phá. Đối với những người bám lấy quyền lực nhờ tham nhũng, dối trá và bịt miệng tiếng nói đối lập, hãy biết rằng quý vị đang đi ngược lịch sử, nhưng chúng tôi sẽ chìa tay ra nếu quý vị biết từ bỏ nắm đấm.

Đối với các quốc gia nghèo khó, chúng tôi cam kết sẽ sánh vai cùng quý vị để giúp các trang trại xanh tươi, để dòng nước sạch được tuôn trào, để nuôi dưỡng những sinh linh đói khát. Và đối với những quốc gia được hưởng sự đầy đủ như chúng ta, chúng ta nói với họ rằng chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ với những nỗi thống khổ phía bên ngoài biên giới, cũng không thể tiếp tục sử dụng tài nguyên thế giới mà không quan tâm gì tới những ảnh hưởng kéo theo. Thế giới đã thay đổi và chúng ta phải thay đổi theo.

'Nghĩa vụ'

Khi chúng ta cân nhắc con đường phía trước, chúng ta tưởng nhớ với lòng biết ơn khiêm nhường trước những người Mỹ dũng cảm, vào chính lúc này đây, đang tuần tra các sa mạc, rặng núi xa xôi. Họ có cái để nói với chúng ta, giống như những anh hùng gục ngã tại Arlington đã thì thầm từ bao thời đại. Chúng ta vinh danh họ không chỉ vì họ là những người bảo vệ tự do của chúng ta, mà còn vì họ hiện thân cho tinh thần phục vụ; sẵn sàng tìm ý nghĩa trong những điều lớn hơn bản thân họ. Và chính trong khoảnh khắc này - một khoảnh khắc sẽ định hình cả một thế hệ, chính tinh thần này phải hiện hữu trong tất cả chúng ta.

Vì cho dù chính phủ có thể làm gì và phải làm gì, quốc gia này chung cuộc là nhờ vào niềm tin và quyết tâm của nhân dân Mỹ. Đó là sự tử tế đùm bọc người xa lạ khi những con đê bị vỡ, là sự vị tha của những công nhân thà làm bớt giờ chứ không để bạn mình mất việc, chính chúng sẽ đưa ta qua những giờ đen tối nhất. Chính là sự dũng cảm của nhân viên chữa cháy băng qua cầu thang đầy khói, chính là bậc cha mẹ sẵn lòng chăm sóc con, mà quyết định số phận của chúng ta.

Các thách thức của chúng ta có thể là mới mẻ. Các công cụ mà chúng ta dùng để đối phó có thể là mới mẻ. Nhưng các giá trị đã dẫn đến thành công của chúng ta - sự trung thực và chăm chỉ, dũng cảm và công bằng, khoan dung và tò mò, trung thành và lòng yêu nước - những điều này là cũ. Những điều này là có thật. Chúng đã là lực đẩy âm thầm cho tiến bộ xuyên suốt lịch sử của chúng ta. Điều đang đòi hỏi chúng ta là quay về với những sự thật đó.

Điều đòi hỏi chúng ta lúc này đây là một kỷ nguyên mới của trách nhiệm, một sự thừa nhận của từng người Mỹ rằng chúng ta có nghĩa vụ với chính bản thân, quốc gia, và thế giới; những nghĩa vụ mà chúng ta không phải miễn cưỡng chấp nhận mà sẵn sàng nắm lấy, với hiểu biết chắc chắn rằng không có điều gì làm tinh thần thỏa mãn, phản ảnh tư cách của chúng ta cho bằng cống hiến trọn vẹn cho một sự nghiệp khó khăn.

'Món quà của tự do'

Đây là giá và sự hứa hẹn của quyền công dân.

Đây là nguồn gốc của niềm tự tin, sự hiểu biết rằng Thượng Đế trông cậy vào chúng ta để định hình một định mệnh chưa chắc chắn.

Đây là ý nghĩa của tự do và tôn giáo của chúng ta - là vì sao mọi người, nam, nữ, trẻ em thuộc mọi chủng tộc và tín ngưỡng có thể cùng nhau chào đón tại quảng trường quốc gia vĩ đại này và vì sao một người có cha cách đây gần 60 năm có thể không được phục vụ tại một nhà hàng địa phương mà nay đứng trước mặt quý vị để đọc lời thề thiêng liêng nhất.

Vậy chúng ta hãy đánh dấu ngày này bằng cách nhớ lại chúng ta là ai và chúng ta đã đi xa thế nào.

Vào năm Hoa Kỳ ra đời, trong những tháng lạnh nhất, một nhóm nhỏ những người yêu nước chụm lại bên nhau bên cạnh đống lửa gần tàn trên bờ dòng sông băng giá. Thủ đô đã bị bỏ lại. Kẻ thù đang tiến tới. Tuyết loang lỗ vết máu. Vào thời điểm khi kết quả cuộc cách mạng rơi vào hồ nghi, vị cha già của quốc gia ra lệnh đọc cho mọi người những lời này:

“Hãy nói cho thế giới tương lai... rằng trong mùa đông giá lạnh nhất, khi chỉ còn lại hy vọng và nghị lực... thì thành phố và đất nước, lo lắng trước mối nguy hiểm chung, đã tiến lên để đối đầu.”

Nước Mỹ ơi. Giữa những nguy hiểm chung, trong mùa đông gian khó của chúng ta, hãy nhớ những lời bất tử này. Với hy vọng và nghị lực, chúng ta hãy một lần nữa can đảm vượt qua dòng nước băng giá và chịu đựng bất cứ cơn bão nào sẽ đến. Hãy để con cháu chúng ta nhắc lại rằng khi chúng ta bị thử thách, chúng ta đã chối từ không để cuộc hành trình phải ngừng lại, rằng chúng ta không quay lui hay ngập ngừng, và với con mắt chăm chú nhìn vào chân trời và với ân phước của Thượng Đế ban cho, chúng ta mang theo món quà của tự do và chuyền lại bình an cho các thế hệ sau.

Cảm ơn quý vị. Thượng đế ban phước lành cho quý vị. Và Thượng đế ban phước lành cho nước Mỹ.



chuyện thằng cuLu, chuyện bác Việt kiều

Thằng cu nhà Cu Lu đi học về. Vừa vào nhà nó khóc òa...Cu Lu chạy ra hỏi:
- Sao con khóc?
- Oan cho con quá...
- Sao vậy?
- Giờ toán, cô giáo hỏi con: "Hai cộng hai bằng mấy?". Con bảo bằng bốn. Cô giáo hỏi tiếp: "Thế hai nhân hai bằng mấy?"...
Cu Lu buột miệng:
- Thế thì khác ...éo gì?
- Vâng, con cũng trả lời như bố... thế mà cô giáo cho con không điểm. Đến giờ thể dục, thầy giáo hô: "Nhấc chân trái lên". Một lúc sau thầy hô tiếp: "Nhấc chân phải lên"...
Cu Lu lại buột miệng :
- Thế thì đứng bằng cái con c... à ?
- Thì con cũng nói như thế. Thầy liền cho con không điểm... Đến giờ văn, cô giáo bảo con: "Em hãy đặt 1 câu có từ "cô giáo"". Con liền trả lời: "Cô giáo là cave". Thế là cô giáo...
Cu Lu ngắt lời:
- Địa chỉ nhà cô ở đâu?

Câu chuyện'' mất dạy'' như thế có phải thật không ? còn câu chuyện sau thì người kể cứ đinh ninh ''Sự thật 100%'' :

Một anh trai Việt kiều ra tham Hà nội phố, đang di lang thang bờ hồ thì gặp một anh bán postcard léo nhéo đũ thứ tiếng ngoại quốc mời chào: Hello! Sayonara ! cỏn tùng wa~,,, Bla. bla...Lắc đầu mãi không ăn thua, anh đành nói: ''Không mua đâu, Việt nam đây.''
- "Vậy mà nẫy giờ đéo chiệu mở mồm ra !''
Bực mình lắm nhưng không biết làm sao, anh lại tiếp tục đi. Được một quản lại gặp thằng đánh giầy theo léo nhéo, nhưng anh việt kiều cũng không vừa:
-''Đây răng còn đéo đánh, nữa là giầy ! ... Mà nó có tội tình gì mà mày đòi đánh nó ? ''
Đi được một quản lại gặp một thằng đánh giày khác:
-''Để tao gọi thằng vừa đánh xong cho tao lại. Ý mày bảo là nó đánh không sạch chứ gì ?''
Đi được một quản thì một thằng mời kẹo cao su:
-'' mày thấy răng tao giả, mày mời đểu đấy à ?''
Tưởng thế là yên, anh trai cười mản nguyện và bước tiếp. Đi được một quản thì một thằng lái xe ôm lạng đến: '' Anh giai ở tận đâu, đàn em xin đưa về tận cổng. ''
-'' Nhà tao ở ngay tháp rùa giữa hồ gươm đấy. Phải đưa đến tận cổng nhá !''
Chả hiểu sao những cái chuyện mất dạy như thế này em lại thấy nó vui vui nên em sưu tầm gởi các bác ngâm cứu thêm.

tuan
Xin vào link sau đây để đọc bài liên quan:
http://www.congan.com.vn/an_ninh_kinh_te/20081230.85897/20081230.58655/20090109.74399.html

Lê Minh Phiếu

Một trong những sự kiện đáng ghi nhớ của năm 2008 là vụ thanh niên Việt nam biểu tình phản ứng trướt hành động bành trướng trên biển Đông của Trung Quốc. Nhân vật gây ấn tượng tốt đẹp nhất trong sự việc này là bạn trẻ Lê Minh Phiếu. Xin mời theo giỏi bài viết công phu và tâm huyết sau đây. Và theo đường link để vào blog MinhBien dọc các bài khác. Rất hay.

- Minh Biện - http://www.minhbien.org -

Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông

Posted By Lê Minh Phiếu On January 11, 2009 @ 8:21 am

Xin giới thiệu với bạn đọc Minh Biện bản thảo của bài báo do anh Dương Danh Huy và tôi cùng viết, đăng trên Tuần Việt Nam vào ngày 11/1/2009.

[1] http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/5831/index.aspx

Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông

Lê Minh Phiếu và Dương Danh Huy ([2] Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)


Ngày nay Việt Nam đang đối diện với tham vọng mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam của Trung Quốc. Cùng với những đòi hỏi và những hành động đối với Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc còn thể hiện quyết tâm đòi hỏi gần như toàn bộ Biển Đông. Phần Biển Đông mà họ đòi hỏi nằm trong các đường gạch nối trên Biển Đông, được đưa ra đầu tiên vào năm 1947, có hình chữ U hay hình lưỡi bò và do vậy thường được gọi là “đường lưỡi bò” hay “ranh giới lưỡi bò”. Phần diện tích trong đường lưỡi bò này chiếm khoảng 75% diện tích trên Biển Đông, để lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.

Chủ trương tiến công trên biển có một không hai trong lịch sử thế giới này xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền trên biển của Việt Nam. Nó đe doạ trầm trọng đến kinh tế, giao thông, quốc phòng không chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho muôn vàn thế hệ sau. Có thể nói chủ trương này nguy hiểm không kém bất cứ chủ trương nào của Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử giằng co giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc hàng nghìn năm qua.

Năm 1992, Trung Quốc ký hợp đồng thăm dò vùng Tư Chính – Vũng Mây với công ty Crestone. Năm 2007, Trung Quốc đưa ra quy định theo đó tất cả bản đồ Trung Quốc phải vẽ ranh giới lưỡi bò này. Cũng năm 2007, Trung Quốc áp lực tập đoàn dầu khí BP phải ngưng hợp tác với Việt Nam trong hai vùng dầu khí Mộc Tinh, Hải Thạch.

Năm 2008, Trung Quốc vẽ ranh giới lưỡi bò vào bản đồ rước đuốc Olympic và Paralympic, nhưng sau đó gỡ ra khỏi bản đồ rước đuốc Olympics trên trang web chính thức sau khi có tiếng nói phản đối từ phía Việt Nam gửi đến Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế. Tháng 7 năm 2008, Trung Quốc áp lực ExxonMobil không được hợp tác với Việt Nam trong vùng biển hợp pháp của Việt Nam. Tháng 11 năm 2008, Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc công bố dự án có vốn 29 tỷ USD để khảo sát và khai thác trên Biển Đông.

Những sự kiện trên cho thấy sự quyết tâm và leo thang của Trung Quốc trong việc thực hiện chủ trương đó.

11_bandolon2

Các vạch đỏ là ranh giới lưỡi bò Trung Quốc đòi hỏi. Các đường xanh là một cách chia các vùng đặc quyền kinh tế dựa trên UNCLOS, nhưng không chia các đảo đang bị tranh chấp. Các vòng tròn xanh lá cây là lãnh hải 12 hải lý của các đảo này.


Trước một chủ trương “không thể chấp nhận được” như vậy, Việt Nam phải đối phó thế nào? Câu trả lời đầu tiên là, mặc dù các biện pháp chống trả hẳn phải khác với trong quá khứ, chúng ta phải chống trả với một sự tích cực không kém tổ tiên chúng ta. Chống trả có thể bao gồm phương cách nhu, nhưng không được nhu nhược.

Tất nhiên, về cơ bản và lâu dài, Việt Nam phải có nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh. Việc xây dựng kinh tế và quốc phòng là điều cơ bản nhất để bảo vệ đất nước. Nhưng đây cũng là nhiệm vụ mang tính dài hạn, cốt yếu trong bất kỳ hoản cảnh nào, thời đại nào, không chỉ khi có tranh chấp trên Biển Đông. Vì thế, chúng tôi xin đưa ra một số vấn đề cụ thể khác mà có thể bắt đầu ngay từ bây giờ.


Cần một tư duy Biển Đông

Ở Trung Quốc, sau thất trận ở phương Nam dưới thời Lê Lợi, nhà Minh lâm vào khủng hoảng kinh tế. Các Nho thần bảo thủ thời ấy bèn viện dẫn lời đức Thánh Khổng là “cha mẹ còn tại thế mà mình đi xa thì là bất hiếu!” mà nói rằng chẳng có lý do gì khiến ta phải bành trướng ra ngoài, mà giong buồm ra biển. Kết cục, sau khi Trịnh Hoà qua đời và được thủy táng trong chuyến hải hành thứ bảy, Minh Tuyên Đức ra lệnh cấm đóng tầu viễn dương, không ai được có tàu có quá ba cột buồm. Từ cái lệnh gọi là “hải cấm” ấy, từ giữa thế kỷ 15 trở đi Trung Quốc bế môn tỏa cảng và thu vét phương tiện phòng thủ để chỉ là cường quốc lục địa, không có tư duy hải dương.

Sau khi họ bị các nước khác tấn công từ biển và sau khi bị Nhật thôn tính một số đảo, tư duy hải dương của Trung Quốc đã ra đời. Nhờ có tư duy này, ở Biển Đông, đến nay Trung Quốc vượt trội ta về ý thức, đội ngũ nghiên cứu, tính nhất quán và sự tích cực.

Trong khi đó, cho tới gần đây, nói chung chúng ta vẫn chỉ nhắc tới Hoàng Sa, Trường Sa, mặc dù những đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông liên quan đến cả những vùng biển nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Hoàng Sa và Trường Sa theo Công ước Liên hợp quốc về luật biển. Nói cách khác, có nhiều đòi hỏi của Trung Quốc trên Biển Đông không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa.

Vì thế, chúng ta phải tích cực xây dựng xây dựng một tư duy Biển Đông. Từ đó, phải có một đội ngũ hùng hậu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến biển, chiến lược biển, xây dựng một ý chí quốc gia, nâng cao ý thức và kiến thức về Biển Đông.


Chiến lược ngoại giao và truyền thông

Là nước nhỏ, trong chiến lược của chúng ta phải tận dung biện pháp ngoại giao. Tuy không nên tin rằng nếu Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam thì sẽ có nước nào đó giúp chúng ta, nhưng phải nhìn nhận là ngoại giao có trọng lượng trên bàn cân “đánh hay không” của Trung Quốc. Chúng ta phải tăng tối đa trọng lượng này.

Trong chiến lược ngoại giao của ta phải có quyền lợi gì cho các nước khác. Tốt nhất là chiến lược ngoại giao của chúng ta có khía cạnh giúp những nước khác giành cho họ những quyền lợi không phải của ta.

Hơn nữa, việc tuyên truyền và thu hút sự quan tâm trên phương diện quốc tế cũng vô cùng quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Mặc dù có cơ sở rất yếu về phương diện lịch sử và pháp lý đồi với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã và đang tiến hành công cuộc tuyên truyền về chủ quyền của họ đối với quần đảo này.

Dù yêu sách đưỡng lưỡi bò của họ hoàn toàn vô lý, và mặc dù việc Trung Quốc tiến hành thăm dò và khai thác trên khu vực này là “không thể chấp nhận được”, phần lớn các hãng tin quốc tế, khi đưa tin về dự án này, đã không đả động gì tới thực tế là vùng biển này đang bị tranh chấp.

Vì vậy, bằng con đường truyền thông và ngoại giao, cần vận động sự quan tâm và ủng hộ của dư luận quốc tế cho một giải pháp công bằng và hoà bình cho các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Quốc tế sẽ ủng hộ chúng ta khi thấy công lý và lẽ phải thuộc về chúng ta, cũng như thấy được quyền lợi của họ từ những giải pháp công bằng và hòa bình đó.

Đường lưỡi bò của Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác trong ASEAN. Do vậy, trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam cần phải tận dụng ưu thế thành viên của mình để vận động cho một tiếng nói chung, dựa trên những nguyên tắc mà Quỹ Nghiên cứu Biển Đông đã đề ra và đăng trên Thời báo Manila (Philippines). Ngoài ra, trong việc hội nhập ASEAN cũng như trong việc xây dựng Cộng đồng Kinh tế Đông Á, Việt Nam cần phải giữ thế chủ động.

Phương diện pháp lý

Trong thế giới văn minh hiện nay, pháp luật đã trở thành nền tảng cho ứng xử giữa các quốc gia. Việt Nam, là nước nhỏ, cần phải tận dụng phương tiện và lý luận luật pháp để bảo vệ chủ quyền của mình. Việt Nam cần đào tạo và huy động các chuyên gia luật quan tâm và tham gia vào việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông.

Đi vào một số chi tiết, đối với Hoàng Sa, Trường Sa, những sự kiện lịch sử trước năm 1954 đã xác lâp chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này theo công pháp quốc tế. Theo giáo sư luật quốc tế người Pháp Monique Chemillier-Gendreau, các lập luận của Trung Quốc dựa trên những sự kiện lịch sử trước thế kỷ 20 đều không có giá trị trên diện công pháp quốc tế[3] [1]. Đối với Hoàng Sa, các lập luận của Trung Quốc trước năm 1954 thua kém lập luận của Việt Nam[4] [2]. Đối với Trường Sa, lập luận của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và chỉ biện hộ cho chính sách mở rộng lãnh thổ trên biển[5] [3].

Trong thời kỳ 1954 – 1975, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không có một hiệp định biên giới nào ký với Trung Quốc liên quan đến Biển Đông, mà chỉ có những tuyên bố đơn phương.

GS Monique Chemillier-Gendreau cho rằng những tuyên bố đơn phương này không có hiệu lực vì lý do thẩm quyền lãnh thổ và vì lý do hoàn cảnh chiến tranh[6] [4].

Mặc khác, nếu như bỏ qua lập luận trên thì, theo luật quốc tế, không có một nguyên tắc pháp lý nào có thể làm cho những lời tuyên bố đơn phương có một tính chất ràng buộc, ngoại trừ nguyên tắc “estoppel”[7] [5]. Nhưng, theo TS Từ Đặng Minh Thu, những tuyên bố đó không hội đủ các điều kiện và các yếu tố mà nguyên tắc estoppel đòi hỏi[8] [6]. Do đó chúng không ảnh hưởng tới chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Như vậy, theo các lập luận trên, đối với thời kỳ 1954 – 1975, không tồn tại một quy tắc pháp lý nào làm cho Việt Nam mất chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa mà Việt Nam đã có trước 1954.

Dẫu sao, các nhà luật học Việt Nam cũng nên nghiên cứu thêm về học thuyết estoppel và về những nguyên tắc pháp lý khác có thể được áp dụng cho các sự kiện trong thời kỳ 1954-1975. Trong thời gian đó, Việt Nam cũng phải chống lại việc Trung Quốc lợi dụng những sự kiện này để tuyên truyền.


Đối với các vùng biển không thuộc về Hoàng Sa hay Trường Sa, ranh giới lưỡi bò đe doạ chủ quyền của Việt Nam ở ngay cả những vùng biển không liên quan tới những vùng này. Việt Nam cần phải tách vấn đề chủ quyền đối với những vùng biển này ra khỏi tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để:

(1) Trung Quốc không thể dùng tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa để nguỵ trang cho ý đồ lưỡi bò của họ;

(2) chúng ta có thể thực thi chủ quyền đối với những vùng biển này trong khi Hoàng Sa, Trường Sa còn bị tranh chấp; và

(3) nếu chủ quyền trên những vùng biển này đã được giải quyết thì sức ép về việc giải quyết tranh chấp đối với Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giảm xuống rất nhiều.


Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc

Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Trung Quốc công bố bản đồ lưỡi bò khoanh 75% Biển Đông một cách mập mờ vào năm 1947 cho tới nay, chưa bao giờ Việt Nam phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông. Đây là một thiệt thòi tương tự như việc chiến đấu trong khi một tay bị buộc sau lưng.

Trong hoàn cảnh hiện nay, dân tộc Việt Nam cần phải vượt qua những cách biệt và Nhà nước cần phải tạo điều kiện để phát huy sức mạnh của toàn dân trong việc đấu tranh chống lại những hành động “không thể chấp nhận được” từ phía Trung Quốc. Ngày 9/12/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh tại Hội nghị Quân chính toàn quân: “Phải tiếp tục làm cho toàn quân, toàn dân nhận thức đầy đủ hơn về mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện mới.”[9] [7]

Để có thể phát huy sức mạnh của toàn dân, cần phải có một Quy tắc ứng xử chung về Biển Đông giữa Nhà nước và nhân dân và giữa các cộng đồng người Việt Nam với nhau. Quy tắc này không cần phải là luật, chỉ cần là một thoả thuận bất thành văn, được nhiều cá nhân và hội nhóm công khai tôn trọng.

Nếu không có một quy tắc ứng xử chung về Biển Đông cho dân tộc Việt Nam, dù quy tắc đó chỉ là một sự thông cảm bất thành văn, thì nhân dân và Nhà nước Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu trong tình trạng một tay bị buộc chặt sau lưng, trong khi Trung Quốc càng ngày càng tiến xa, tiến mạnh với yêu sách và hành động để biến 75% Biển Đông thành “biển lịch sử” của họ.

***
Ngày nay Việt Nam đứng trước một sự đe doạ khổng lồ. Khác với trong quá khứ, sự đe doạ này tiến triển rất chậm, nhưng càng ngàng càng nghiêm trọng, qua nhiều thập niên, có thể nói là cả thế kỷ. Nhiều khi sự đe doạ này rất nhẹ nhàng, dường như không có, nhiều khi có những động thái phi bạo lực, tương đối ít khi tiến tới bằng bạo lực. Nhưng chúng ta đừng để sự nhẹ nhàng, chậm rãi này làm chúng ta coi thường hay thờ ơ. Nếu sự đe doạ này đi tới đích của nó thì hậu quả cho đất nước sẽ vô cùng trầm trọng và có thể sẽ vĩnh viễn. Chúng ta phải tích cực chống lại sự đe doạ này với một sự tích cực không kém gì tổ tiên ta đã từng giữ nước.


[10] [1] Monique Chemillier-Gendreau, “Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands”, Kluwer Law International, ISBN 9041113819, 2000, trang 80, có thể đọc tại [11] http://books.google.co.uk/books?id=58q1SMZbVG0C&pg=PP1

[12] [2] Monique Chemillier-Gendreau, sách đã dẫn, trang 136.

[13] [3] Monique Chemillier-Gendreau, sách đã dẫn, trang 139.

[14] [4] Monique Chemillier-Gendreau, sách đã dẫn, trang 130.

[17] [6] Từ Đặng Minh Thu, tài liệu đã dẫn.