B'lao hiền quá đi

B'LAO – bản sắc của bình yên

Từng là nơi được người Pháp xây dựng thành vùng trồng trà nổi tiếng Đông Dương từ thập niên 40 của thế kỷ trước, B'Lao – cái cửa ngõ của cao nguyên Lâm Viên là một vùng thị tứ được quy hoạch một cách thoáng đãng, tương thích với địa hình núi đồi. Ở đó, khí hậu mát mẻ luôn ưu đãi. Một khung cảnh cây cỏ chập chùng. Nhiều công trình kiến trúc tôn giáo, nhà ở... hài hoà thiên nhiên, xinh xắn và gần gũi. B'Lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng) một điểm dừng chân trên những chuyến rong chơi cao nguyên.

Nguyễn Vinh thực hiện


Một công trình thuộc hình thái kiến trúc thuộc địa từ thời Pháp nay vẫn được sử dụng làm nhà thiếu nhi

Một góc nhà thờ trong đêm mùa đông


Dốc nhà thờ

Ru Ta Ngam Ngui - Khanh Ly

Có sợi tóc nào bay, trong trí nhớ nhỏ nhoi...









Ngày 02.01.2009 Giờ 07:52

Hương Thanh

Sự hãnh diện khăn đóng – áo dài

Cuộc trò chuyện với SGTT diễn ra ngay trước buổi biểu diễn kỷ niệm 25 năm đi hát của ca sĩ Hương Thanh, giọng ca được người Châu Âu biết đến bên cạnh nghệ sĩ nhạc Jazz người Pháp gốc Việt Nguyên Lê. Người phụ nữ ấy với chiếc áo dài khăn đóng đã đem dân ca Việt đến với cả triệu người trên thế giới

Năm 2007 chị vừa nhận giải thưởng của France Musique về dòng nhạc dân tộc, sau một thời gian dài kênh phát thanh chuyên về âm nhạc này theo dõi bước đường nghệ thuật của chị. Còn năm 2008, chính chị sẽ hát trong một chương trình đặc biệt quan trọng để kỷ niệm con đường nghệ thuật của mình. Chị kể gì về con đường 25 năm đó với mọi người?

Những ngày mới qua Pháp rất khó khăn, tôi từng phải bỏ học để đi làm kiếm sống và phụ giúp gia đình. Ngày đó mới 17 tuổi, vừa học xong nhạc ở Việt Nam, chưa ra nghề thì đã đi. Lúc đó buồn thảm lắm, cứ nghĩ là mộng thành nghệ sĩ chắc tiêu tan. Nhưng tôi tin ai cũng có số mệnh cả... Ngay sau khi nhận được giải thưởng, tôi và một số người của đài radio France Musique đã có ý định làm một buổi trình diễn để khán giả Âu châu xem Hương Thanh, qua một khía cạnh khác ngoài nhạc dân ca pha trộn với nhạc jazz. Đồng thời, buổi trình diễn cũng đánh dấu những khoảng thời gian trước và sau này về giai đoạn âm nhạc của tôi. Tôi liên lạc với nhiều nghệ sĩ và rất may mắn vì tất cả đều hưởng ứng tới diễn chung. Đó không phải một đại nhạc hội như thường thấy, mà là Hương Thanh với những nghệ sĩ mà Hương Thanh đã từng diễn chung. Bắt đầu là tiếng ầu ơ ru con với đàn bầu, sau đó là 10 phút cải lương xã hội nói về tình chị em mà chị gái tôi – nghệ sĩ Hương Lan từ Mỹ qua để ủng hộ tinh thần cho tôi trong buổi diễn này.

Rất ít khán giả Việt Nam của chị biết rằng chị chính là em gái của ca sĩ hải ngoại Hương Lan?

Vâng, đêm 21.12 cũng là lần đầu tiên trong cuộc đời nghệ sĩ của mình, tôi rất hân hạnh được hát chung với chị gái Hương Lan. Trong chương trình ấy tôi cũng diễn cải lương, trích đoạn vở Câu thơ yên ngựa của Thanh Tòng. Mục đích chính, tôi muốn nhắc khán giả châu Âu biết đến nguồn gốc của gia đình Hương Thanh. Từ trong đáy lòng, tôi rất hãnh diện là con của cố nghệ sĩ Hữu Phước và là em gái của nghệ sĩ Hương Lan. Tôi cũng cùng chị Hương Lan hát chung một tiết mục nhạc vàng nữa, để mọi người thấy nhạc vàng soạn đẹp thì cũng là rất đẹp. Và đó cũng là một thể nhạc được yêu chuộng rất nhiều!

Đó là một bất ngờ, vì mọi người biết Hương Thanh nhiều hơn là một nghệ sĩ dân gian hiện đại với nhạc jazz của Nguyên Lê.

Đúng rồi. Những tiết mục này tôi đã từng hát và diễn từ hơn 20 năm về trước, ở mọi nơi tại nước Pháp trong mọi hình thức. Từ những dịp lễ tết Việt Nam, trước cả khán giả Việt Nam và Pháp. Phần hai, tôi mới giới thiệu đến những tiết mục của 15 năm sau này, khi tôi đã gặp gỡ những nhạc sĩ tài năng Nguyên Lê, Michel Alibo, Karim Ziad, Renaud Garcia-Fons, François Verly, Pierre Olivier Govin, Alex Tran.

Như vậy phải nói rằng, chị mất 10 năm để tìm ra con đường thênh thang cho giọng hát của mình, gắn dân ca với một ngôn ngữ âm nhạc hiện đại mới?

Tôi không cho đó là mất. Tôi chỉ cảm nhận rằng, mặc dầu mình học nhạc từ nhỏ ở Việt Nam, từ cổ nhạc tới tân nhạc, nhưng dịp may lúc đó chưa đến để được bước lên sân khấu. Vì tôi là con của một gia đình nghệ sĩ rất nổi tiếng cả cha và chị gái, nên không ai có thì giờ để ý đến những người con khác. Tôi nghĩ, đó cũng là cái hay vì không hẳn tất cả những đứa con của cha mình đều phải thành nghệ sĩ. Từ sở thích đến quyết định khả năng thành công còn kèm theo sự may mắn. Dĩ nhiên, là con và em gái của những nghệ sĩ nổi tiếng cũng đã là một phần may mắn rồi, nhưng cũng phải cộng thêm sự cố gắng của bản thân mình tới đâu nữa.

Sự thành công của chị rất đặc biệt. Chị hát nhạc jazz bằng tiếng Việt, hát dân ca của quê hương chúng ta. Chị đã làm cách nào để truyền tải thông điệp về nội dung vốn rất sâu sắc của dân ca đến với khán giả ngoại quốc?

Không phải dễ mà có chỗ đứng và mọi người chú ý tới mình. Phần lớn đều phải nổi tiếng trước ở Việt Nam. Thế hệ anh chị hát tân nhạc Việt Nam ở Pháp và Mỹ rất nhiều, đã có những chỗ đứng vững chắc. Những thế hệ đi sau như tôi rất khó để có một chỗ đứng như các anh chị. Tôi lớn lên trong một gia đình cổ nhạc. Chị Hương Lan từng gởi tôi theo học cả cổ nhạc với thầy Út Trong và cũng được học tân nhạc với thầy Duy Khánh, Bảo Thu từ bé. Năm 17 tuổi, tôi qua Pháp. Tại Radio France, tôi mới bắt đầu tự tạo cho mình một thế giới riêng. Phần đông khán giả vẫn nghĩ tôi người ngoại quốc. Khi hát trước khán giả, tự tôi tưởng tượng trong khán phòng, tất cả đều là người Việt và cứ thế tôi hát hết tấm lòng của mình… Thường thường, tôi giải thích bằng tiếng Pháp trước khi hát từng bài để họ biết trước, và bắt đầu đi sâu vào giọng hát. Một mình hát cho người ngoại quốc cả một chương trình dài hai tiếng không hề dễ, bởi tôi rất hay để đầu óc của mình vào một thế giới khác.

Dường như giọng hát của chị đã là một thứ nhạc cụ đặc biệt để truyền tải âm nhạc?

Đó cũng là một cách truyền tải như câu hỏi. Vì khi tôi cất tiếng hát trước khán giả ngoại quốc, trước mắt tôi là cả một sự hãnh diện từ khăn đóng và áo dài. Tôi đã và đang khẳng định cái đẹp từ lời ca tiếng hát, đến đi đứng và trang phục. Đó là Việt Nam.

Đó là lý do hình ảnh “áo dài khăn đóng” luôn gắn bó với chị?

Tôi thích mặc áo dài lắm, vì ở bên này chỉ có bước lên sân khấu tôi mới có dịp mặc được. Và những chương trình tôi hát, đối với tôi hình ảnh của mình lúc nào cũng là đại diện cho Việt Nam nên tôi không cho phép mình trình bày theo cách khác.

Ngay ở Việt Nam, không phải nghệ sĩ nào cũng có thể hát tốt dân ca cả ba miền. Với chị, dường như điều đó không khó và chị có một cách cảm nhận dân ca riêng?

Thầy dạy nhạc khi trước của tôi là người Huế nên tôi phần nào ảnh hưởng từ thầy. Dân ca miền Bắc tôi tự học qua CD. Còn giọng miền Nam là tự nhiên thôi. Cá nhân tôi có một cách suy nghĩ rất tự tin, dù mình không thể nào phát âm đẹp như ca sĩ gốc Trung, Bắc nhưng quan trọng nhất tôi đem tâm hồn mình đi theo dòng nhạc. Tôi biết mình còn phải học hỏi mãi với nghề này. Nhưng tôi yêu âm nhạc và tâm hồn Việt Nam, mỗi bài ca đều là những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi ở Việt Nam… Giai điệu dân ca mỗi miền khác nhau, khán giả ngoại quốc đi xem phần đông đều có trình độ nghệ thuật hết cả nên họ biết phân biệt cảm xúc, âm nhạc và tuỳ sở thích. Với tôi, được hát là giãi bày tâm sự. Khi khán giả yêu thích giọng hát Hương Thanh, thì tôi đã thành công rồi. Phát âm không còn quan trọng, mà quan trọng là cảm xúc và phần trình diễn nhạc cụ…

Nếu được lựa chọn, chị có muốn thay đổi điều gì trong quãng đường đã qua của mình không?

Không có gì phải thay đổi cả. Từ bé, tôi đã chọn con đường nghệ thuật. Thường thì làm văn hoá không dư giả gì, nhưng tôi hạnh phúc vì tôi được làm điều tôi yêu thích. Chỉ tiếc những đoạn đường đã qua, vì sự thay đổi nơi sống đã làm tôi mất rất nhiều thời gian, cắt đứt con đường nghệ thuật của mình một quãng đời. Điều hối tiếc lớn nhất là ba tôi không còn nữa. Trong mười đứa con của ba chỉ có hai người kế nghiệp. Ba không còn nhìn thấy và hãnh diện với niềm hạnh phúc của tôi hôm nay.

Người Việt rất tự hào có chị và Nguyên Lê như những sứ giả truyền bá cổ nhạc và dân ca Việt Nam.

Tôi rất mừng và cảm ơn lời khen vừa rồi. Tôi không dám nghĩ mình là sứ giả đâu, chỉ thấy niềm vui không tả nổi với những thành công do mình tạo ra. Đó là niềm mơ ước được vào nghề ca hát như ba và chị đã thành. Tôi dù không giàu có về vật chất nhưng rất giàu tình cảm, luôn cố sống thật giản dị với sự thành công, để hãnh diện khi nghe người ngoại quốc khen nhạc Việt đẹp là đã đủ hạnh phúc.

Lần đầu gặp Nguyên Lê, chị có mất nhiều thời gian và công sức để thích nghi với những bản hoà thanh mới mẻ của anh ấy không?

Năm 1994, lần đầu tiên tôi gặp được Nguyên Lê. Khi làm việc với anh ấy, không bao giờ tôi nghĩ mọi chuyện dễ dàng cả. Nhưng tính tôi cứng đầu, thích học hỏi và rất tò mò. Chính tính cách ấy mà từ năm tám tuổi tôi cũng từng vừa học cổ nhạc, vừa học tân nhạc và cả học kịch nữa. Nhạc jazz hoặc bất cứ một dòng nhạc nào khác, tôi cũng thích được học và tìm nghe để biết tại sao nó hấp dẫn. Cũng giống như bất cứ mọi thứ khác, nếu người nghệ sĩ sáng tác giỏi, hoà âm xuất sắc thì với thời gian mình cũng sẽ thích. Và khi thích mình sẽ hát thành công. Người nghe cũng vậy thôi.

Ai là người chủ động tìm kiếm tác phẩm từ vốn dân ca phong phú cho các sản phẩm của chị và Nguyên Lê?

Tôi là người tìm kiếm và chọn bài trong tất cả album của tôi, do Nguyên Lê soạn nhạc. Tôi biết nếu muốn nói về dân ca Việt mà mình chỉ có hát dân ca Nam bộ thì quá thiếu sót nên cố gắng tập một mình, chọn lựa những bài mình thích và cảm được, đem tới để Nguyên Lê soạn hoà âm. Và khi hát, tôi phải giải thích nội dung từng bài để Nguyên Lê hiểu, soạn theo nội dung buồn vui. Tiết tấu từng tác phẩm hoàn toàn do tài năng và trí tưởng tượng của Nguyên Lê.

Đĩa nhạc của chị và Nguyên Lê trở thành những sản phẩm định hướng cho nhiều nghệ sĩ trong nước. Chị và Nguyên Lê biết điều này chứ?

Tôi chỉ biết một phần thôi, chắc Nguyên Lê biết rõ hơn. Rất tiếc, tôi chưa có nhiều dịp theo dõi các nghệ sĩ đi theo hướng này ở Việt Nam. Chiều hướng này rất đặc biệt, vì Nguyên Lê sinh trưởng và lớn lên ở Pháp, hấp thụ từ nhỏ nền văn hoá châu Âu. Còn tôi sinh ra ở Việt Nam, hấp thụ văn hoá châu Á. Đĩa nhạc của chúng tôi là sự gặp gỡ của hai nền văn hoá đó. Có thể, khó khăn mà nghệ sĩ Việt Nam sẽ gặp phải là làm sao có được cái nhìn của người Âu châu dù rằng không sinh trưởng nơi đó. Nhưng tôi hy vọng rằng với khả năng của các nghệ sĩ bên nhà, cũng sẽ đạt như ý muốn mà thôi.

Trân trọng cảm ơn chị.

thực hiện Bạch Vân ảnh Nathalie Roze

30 Năm Trước

30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính
bài lấy từ Osin'sblog

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi vừa vào đến cổng trường, chúng tôi nhận được tin: Vào lúc mờ sáng, “Trung Quốc đã đem quân bắn giết dọc theo Biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta”. Sáng ấy, nhiều đứa trong chúng tôi đi thẳng từ trường phổ thông đến ủy ban nhân dân xã. Chúng tôi đăng ký nhập ngũ mà không kịp nói một câu với chính cha mẹ của mình.

“Quân bành trước Bắc Kinh” đã kéo chúng tôi từ lớp học ra thẳng chiến trường. Nhưng, không hiểu sao nhà trường hôm nay, lại không nói gì về cuộc chiến tranh kéo dài thế giằng co hơn 10 năm ấy. Ba mươi năm trước, những “đàn trẻ nhỏ”, chạy “từ Biên giới về”. Ba mươi năm sau, những đứa trẻ ấy lớn lên và biết: Tháng 4/1956 nhân khi quân Pháp vừa rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc, lúc này đã trở thành “xã hội chủ nghĩa anh em”, chiếm đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa. Ngày 19-1-1974, sau khi Trung Quốc ký Thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ và sau Hiệp Định Paris 1973, Mỹ rút lui khỏi Việt Nam, Trung Quốc, vẫn đang là “xã hội chủ nghĩa anh em”, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, giết 58 chiến sỹ Hải Quân Sài Gòn, chiếm đảo. Ngày 14-3- 1988, Trung Quốc lại tấn công một số đảo đá của Trường Sa giết hại 74 người lính Hải quân Việt Nam và, từ đó, chiếm luôn những hòn đảo ấy.

Rồi. Ngày 12-11-2008, Trung Quốc tuyên bố đầu tư 29 tỷ USD cho một dự án “khảo sát và khai thác Biển Đông”. Trong đó, bao gồm cả những biển đảo của Việt Nam mà Trung Quốc vẫn còn chiếm giữ. Bốn tháng trước, 7-2008, khi hãng dầu khí Mỹ, ExxonMobil, hợp tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò ở Nam Côn Sơn, Trung Quốc đã gây áp lực với ExxonMobil để họ phải rút lui. Năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long. Chỉ hai năm sau khi họ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với công ty Crestone ở vùng Vũng Mây-Tư Chính. Tàu Trung Quốc “đi lại nghênh ngang” ngoài Biển Đông, trong khi, các dự án của Việt Nam thì phải cay đắng rút lui mà không làm gì được.

Thế hệ chúng tôi, lớn lên “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”, có nhiều sự kiện xảy ra ở Thủ đô, ở Biên giới và ngoài Biển mà chúng tôi không hề được biết. Chúng tôi vẫn hát về Mao Trạch Đông như “mặt trời lên” khi mà “Bác Mao” lần lượt đem quân chiếm Hoàng Sa, rồi Trường Sa. Chúng tôi hát, “núi liền núi, sông liền sông” khi mà nhiều ngọn núi, khúc sông đã không còn nữa. Cho đến ngày 17-2… Được cầm súng, được “vạch mặt, chỉ tên” quân xâm lược cũng là hạnh phúc. Cho dù, nhiều khi ngẫm lại, sự thật chỉ được thông tin vừa lúc, đủ để chúng tôi tất tả lên đường.

Không như chúng tôi, các bạn trẻ hôm nay không ngồi chờ nhà trường “mớm” cho gì thì biết nấy. Nhưng bi kịch của họ lớn hơn… Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là “láng giềng tốt”; một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là “đồng chí tốt”; một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là “bạn bè tốt”; một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là “đối tác tốt”.

Khi tôi đang viết entry này thì đọc được trên blog Nông Dân Gió Lào, người Trung Quốc sẽ tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Hà Nội, dự kiện bế mạc vào ngày 17-2 năm nay. Nông Dân Gió Lào cũng dẫn tin trên Vietnamnet nói rằng, năm 2004, người Trung Quốc cũng đã tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Đà Nẵng, khai mạc đúng vào ngày 19-1. Năm ấy, họ kết 30 cụm hoa đăng, theo Nông Dân Gió Lào, ứng với 30 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một huyện đảo thuộc về Đà Nẵng (19/1/1974- 19/1/2004). Có thể bởi “tình đồng chí” mà khi cấp phép, chính quyền địa phương đã không quan tâm lắm đến sự trùng hợp này. Nhưng, Nông Dân Gió Lào cho rằng các “chú Tàu” thì không làm gì “ngẫu nhiên”, kể cả việc, hồi cuối tháng 11, họ cho tàu mang tên Trịnh Hòa, người mà họ nói là đã phát hiện ra Hoàng Sa và Trường Sa, cập vào Đà Nẵng.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm mấy đảo đá ở Trường Sa. Việt Nam chuyển sang đường lối quan hệ “đa phương”. Thật may mắn là Việt Nam đã không rơi vào tình thế “đơn phương” với một gã khổng lồ vừa đánh trộm vừa xưng là “anh em, đồng chí”.

Nhà nước có những lý do để cư xử với lân bang chín chắn. Nhưng, sự “bồng bột” của dân cũng cần thiết để sự thật, đôi khi, có cơ hội phơi bày. Người dân không bao giờ muốn chiến tranh, vì nếu nó xảy ra, chỉ có họ mới là người ra trận. Tôi đã nói chuyện với nhiều người dân ở Biên giới hồi tháng 3-1979. Tôi có nhiều người bạn là lính ở sư đoàn đóng quân tại Lạng Sơn trong ngày 17 tháng 2. Cái mà chúng ta nói là “chiến thắng” cũng đã phải trả bằng đầu rơi máu chảy.

Tôi có hơn 3 năm ở Campuchia trong giai đoạn chiến tranh, biết câu chuyện Khmer Đỏ chống lại Việt Nam chỉ 2 tuần sau khi nhờ Việt Nam mà có trong tay quyền bính. Biết, sau lưng Pol Pot có bàn tay của ai. Nhưng, tôi cũng đã gặp nhiều người Việt-Gốc-Hoa, trong số hơn 675 nghìn người Việt-Gốc-Hoa phải ra đi trong những năm sau 75, 78. Nhiều người lúc ấy không biết tiếng Hoa, nhiều người đã từ lâu coi mình là dân Việt. Nhiều người khi rời Việt Nam đã không chọn Trung Quốc như là tổ quốc. Vận nước, phải chăng đã không tránh được thế đối đầu? Trung Quốc năm nào cũng nhắc lại cuộc chiến 17-2-1979, tại sao Việt Nam lại không bàn về nó một cách công khai và rút ra bài học cho mình.

Tôi có mặt ở Hồ Gươm vào cái đêm bóng đá Việt Nam thắng Thái Lan ở lượt đi (24-12). Có mặt trên đường phố Sài Gòn ngay sau khi bóng đá Việt Nam vô địch (28-12). Đi trong thác lũ người tràn ra đường hôm ấy, nghĩ, chỉ bóng đá thôi ư mới có được sức mạnh thế này. Ngay từ thế kỷ 19, khi mà lãnh thổ của một quốc gia vẫn còn có thể mở rộng bằng chinh phục, Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888, đã nói: “Dùng vũ lực để chiếm giữ một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp”. Công ước của Liên hiệp quốc về luật biển (1982) cũng tái khẳng định tinh thần này. Chúng ta chưa có bom hạt nhân, chúng ta chưa có tàu to súng lớn. Đất nước ta rất nhỏ. Dân ta không nhiều. Sức mạnh của chúng ta chính là chủ quyền pháp lý.

Ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi sục sôi tiến về Biên giới, đảo vẫn mất mà đất nước lặng im. Thầy giáo dạy sử ở trường lặng im. Báo chí văn chương lặng im… Tôi không rõ không khí ở trong các phòng họp căng thẳng ra sao. Chỉ biết, nếu ngồi đó, tôi sẽ lạnh lưng khi bên ngoài im lặng. Chỉ có sát cánh với nhân dân mới có thêm sức mạnh, đừng để cho từng chiếc đũa bị tách ra và bẻ gãy từ từ.

Tuesday January 6, 2009 - 04:32pm (ICT)

Biên giới Việt-Trung

Sự kiện trọng đại

Hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc vừa ra Tuyên bố chung hoàn thành công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc, xin Thứ trưởng cho biết thêm thông tin về sự kiện này?

- Từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, tại Hà Nội đã diễn ra cuộc gặp đặc biệt giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ. Tại cuộc gặp, hai bên đã đạt được một số nhận thức chung rất quan trọng. Đặc biệt, hai bên đã thống nhất biện pháp giải quyết cả gói đối với hai khu vực thác Bản Giốc và cửa sông Bắc Luân. Tại thác Bản Giốc, thác cao và là thác phụ hoàn toàn thuộc Việt Nam, với thác chính hai bên thoả thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa cuả mặt thác chính, sau đó tiếp tục đi theo dòng chảy chính của sông Quây Sơn.

Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Việt Nam Vũ Dũng và người đồng nhiệm Trung Quốc Vũ Đại Vỹ ký biên bản lúc 2h5’ ngày 1/1/2009. Ảnh: NHT

Tại cửa sông Bắc Luân, đường biên giới bắt đầu từ thượng lưu bãi Tục Lãm đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ. Với việc hoàn thành phân giới khu vực cửa sông này, Việt Nam và Trung Quốc đã xác định xong đường biên giới hoàn chỉnh dài hơn 1400km từ Tây sang Đông, nối tiếp với đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ. Việc giải quyết hai khu vực này là phù hợp với luật pháp quốc tế, với Hiệp ước 1999 và về cơ bản đã đáp ứng được quan tâm của cả hai bên.

Hai bên thoả thuận không xây dựng các công trình nhân tạo tại khu vực thác Bản Giốc để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái ở khu vực này, đồng thời nhất trí xem xét hợp tác khai thác tiềm năng du lịch và sẽ ký Thoả thuận cấp Chính phủ về vấn đề này.

Hai bên cũng thoả thuận sẽ thiết lập khu vực tự do đi lại cho tàu thuyền của cư dân biên giới tại khu vực cửa sông Bắc Luân và ký một thoả thuận cấp Chính phủ quy định các nội dung cụ thể liên quan. Hai bên cũng đồng ý sẽ tổ chức lễ mừng công hoàn thành PGCM tại khu vực cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn, Việt Nam) và Hữu Nghị Quan (Quảng Tây, Trung Quốc) vào thời gian thích hợp trong năm 2009.

Lúc 19h ngày 31/12/2008 hai bên đã ra Tuyên bố chung về viêc hoàn thành PGCM. Sau đó, hai bên đã ký biên bản cuộc họp ghi lại toàn bộ các kết quả này cũng như các công việc liên quan cần triển khai trong thời gian tới.

Tuyên bố chung ngày 31/12/2008 đã khẳng định: “việc hoàn thành toàn bộ công tác PGCM là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong quan hệ Việt Nam-Trung Quốc”. Đây là thành tích chung của các lực lượng PGCM, là thắng lợi chung của tình hữu nghị Việt-Trung và là biểu hiện sinh động của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận.

Thứ trưởng có thể giới thiệu vài nét về quá trình và kết quả của công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc?

Theo quy định tại Điều 6 của Hiệp ước 1999, năm 2000 hai Bên đã thành lập Ủy ban Liên hợp phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc để thực hiện công tác PGCM. Tiếp đó Uỷ ban Liên hợp PGCM đã thành lập Nhóm chuyên gia kỹ thuật và 12 Nhóm liên hợp PGCM trực thuộc để triển khai công tác PGCM trên thực địa tại 12 đoạn biên giới tương ứng.

PGCM là công việc hết sức mới mẻ đối với hầu hết các bộ-ngành, địa phương của ta. Sau 2 năm chuẩn bị, tháng 12/2001, ta và Trung Quốc cắm cặp cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Quảng Ninh) và Đông Hưng (Quảng Tây). Từ tháng 10/2002, hai Bên đồng loạt tiến hành PGCM trên toàn tuyến biên giới. Tuy nhiên do những khó khăn ban đầu như đã nói ở trên, trong hai năm 2003 và 2004, hai Bên chỉ cắm được 89 cột mốc. Để đẩy nhanh tiến độ PGCM, hai Bên đồng ý áp dụng nguyên tắc “dễ trước, khó sau” nên trong hai năm 2005-2006 đã đạt được tiến bộ đáng kể. Đến đầu năm 2007, hai bên đã PGCM được gần 70% đường biên giới.

Tuy vậy, sang năm 2007, tốc độ PGCM chậm hẳn lại do các khu vực tồn đọng đều là các khu vực nhạy cảm, có lịch sử tranh chấp lâu đời, khó giải quyết. Có tháng, có Nhóm PGCM không cắm được cột mốc nào. Trước tình hình đó, ta và Trung Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ, trong đó, quan trọng nhất là biện pháp giải quyết “cả gói”, tức là chia các khu vực thành một số gói khác nhau có chung tính chất như “gói cửa khẩu”, “gói mốc cũ thời Pháp – Thanh”, “gói Cửa sông Bắc Luân và Thác Bản Giốc” để giải quyết theo một số nguyên tắc nhất định v.v…; các gói này có quan hệ tương tác lẫn nhau. Việc giải quyết “cả gói” được tiến hành trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hợp lý, hợp tình, đại để cân bằng về lợi ích, hai Bên có thể chấp nhận được và cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống của cư dân biên giới.

Đến nay, sau hơn 7 năm bền bỉ phấn đấu, hai Bên đã tiến hành 13 vòng đàm phán chính thức cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ, rất nhiều cuộc gặp hai Trưởng đoàn, 31 vòng đàm phán cấp Chủ tịch Ủy ban liên hợp PGCM. Càng về cuối đàm phán càng khó khăn, phức tạp. Riêng năm 2008, hai bên đã tiến hành 11 vòng đàm phán cấp Chủ tịch, vòng ngắn nhất kéo dài 9 ngày, vòng dài nhất 23 ngày, phiên họp dài nhất tiến hành liên tục suốt hơn 30 giờ liền.

Kết quả là, hai bên đã phân giới xong trên thực địa toàn tuyến biên giới dài khoảng 1400 km (trong đó có 344 km đường biên giới đi theo 21 sông, suối chính); cắm được gần 2000 cột mốc trong đó có trên 1500 cột mốc chính và trên 400 cột mốc phụ. Hệ thống mốc giới này đã được đánh dấu, ghi nhận và mô tả phù hợp với địa hình thực tế một cách khách quan, khoa học, chi tiết. Nếu so sánh với đường biên giới của các nước trên thế giới, đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc được đánh giá là có mức độ cột mốc dầy đặc và rõ ràng nhất, được xác định theo phương pháp hiện đại đảm bảo tính trung thực và bền vững lâu dài.

Hy sinh vì sự nghiệp phân giới cắm mốc

Xin Thứ trưởng cho biết có những khó khăn chủ yếu nào trong quá trình phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc?

PGCM là công việc song phương, mọi việc đều phải được 2 bên đồng ý và cùng nhau thực hiện. Biên giới Việt-Trung là khu vực có địa hình hiểm trở phức tạp, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nhiều nơi có độ cao trung bình trên 1000m như ở Điện Biên, Lai Châu. Trong 1400 km đường biên thì có tới 344 km là sông suối biên giới với dòng chảy bị biến động liên tục do lũ lụt. Nhiều khu vực biên giới cách xa dân cư, đường xá đi lại hết sức khó khăn.

Nhiệm vụ của những người làm công tác PGCM là phải đến tất cả các nơi có đường biên giới đi qua, cho dù đó là núi non hiểm trở, đèo cao, vực sâu nguy hiểm. Nhiều nhóm PGCM đã phải đi bộ, trèo đèo, lội suối, xuyên rừng 3-4 ngày mới đến đường biên, bất chấp những khó khăn, nguy hiểm về địa hình, thời tiết, bệnh tật, thậm chí có nhiều nơi bom mìn còn sót lại. Có những nhóm đã phải bám trụ hàng chục ngày liên tục ở khu vực đường biên trong điều kiện thường xuyên có giá rét, sương mù và băng tuyết để làm việc. Chính vì vậy, nhiều cán bộ, chiến sỹ đã đổ máu, thậm chí hy sinh cả thân mình cho sự nghiệp PGCM của Tổ Quốc.

Thứ hai, do lịch sử để lại có một số khu vực hai Bên quản lý, canh tác sang nhau hoặc dân cư sinh sống, sử dụng chung nguồn nước, thậm chí có cả những khu vực mồ mả được chôn cất sang lãnh thổ của nhau. Đối với những khu vực này, ta và bạn đã nhất trí giải quyết theo nguyên tắc linh hoạt, hạn chế đến mức thấp nhất tác động đến cuộc sống, sản xuất của người dân vùng biên giới.

Thứ ba, PGCM là đưa đường biên giới từ Hiệp ước ra thực địa. Đây là công việc hết sức khó khăn do lời văn và bản đồ Hiệp ước không phải lúc nào cũng phù hợp với thực địa và ngược lại. Cũng có khi lời văn và bản đồ của chính Hiệp ước cũng không khớp nhau. Trong điều kiện thăng trầm về chính trị, kinh tế, xã hội, cộng với những thiên tai liên tiếp ở mỗi nước, thì điều này là hoàn toàn có thể hiểu được. Ngoài ra, như các bạn đã biết đường biên giới trên bản đồ chỉ là một nét vẽ, nhưng với tỉ lệ 1/50.000 thì một nét vẽ này trên thực địa đã tương đương với khoảng 50m.

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như đã nói ở trên, nhưng, các các đồng chí tham gia công tác PGCM của ta, với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước nhân dân và đất nước, đã hết sức cố gắng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ PGCM. Công tác PGCM cũng thường xuyên được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, trực tiếp của Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước. Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Chính phủ ta đã nhiều lần trực tiếp đến một số khu vực biên giới để khảo sát và tìm hiểu, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân thôn bản vùng biên để từ đó có những chỉ đạo hết sức sát sao cho Đoàn đàm phán. Chính phủ đã dành ưu tiên cao cả về nhân lực và tài chính cho công tác PGCM.

Thương lượng quy chế quản lý biên giới mới

Ý nghĩa của sự kiện hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc và công việc cần làm trong thời gian tới?

Tuyên bố chung của hai Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ đã nói tương đối đầy đủ vấn đề này. Tôi chỉ xin nêu thêm mấy điểm:

- Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam và Trung Quốc, với tư cách là hai quốc gia độc lập, có chủ quyền đã tự mình hoạch định được đường biên giới trên đất liền giữa hai nước với hệ thống văn bản, bản đồ và mốc quốc giới hoàn chỉnh, hiện đại, có giá trị mãi mãi cho hai quốc gia, dân tộc;

- Thứ hai, việc hoàn thành PGCM sẽ mở ra những cơ hội mới cho công cuộc phát triển của mỗi nước, đặc biệt là tạo điều kiện cho các địa phương có chung biên giới mở rộng giao lưu hợp tác, tăng cường quan hệ kinh tế- thương mại. Thực tiễn mấy năm qua cho thấy nơi nào đã PGCM, thì tình hình trật tự an ninh biên giới, hợp tác kinh tế- thương mại ở nơi đó đều tốt hẳn lên. Đây là tiền đề vững chắc để xây dựng biên giới Việt – Trung thành đường biên giới mãi mãi hòa bình, hữu nghị và cùng phát triển.

- Thứ ba, hoàn thành PGCM là giải quyết được một vấn đề rất nhạy cảm trong quan hệ Việt-Trung. Tiếp theo việc ký kết Hiệp ước 1999, Hiệp ước phân định vịnh Bắc Bộ 2000, hoàn thành PGCM là việc làm thiết thực từng bước cụ thể hóa mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc trên cơ sở phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, là sự đóng góp thiết thực đối với hòa bình, ổn định và phát triển khu vực.

Trong năm 2009, hai bên sẽ tiếp tục thảo luận nhằm hoàn chỉnh nội dung của Nghị định thư PGCM và các phụ lục kèm theo, bao gồm bản đồ, hồ sơ ghi nhận những kết quả phân giới, cắm mốc mà hai bên đã đạt được trên thực địa trong những năm qua; thương lượng về Quy chế quản lý biên giới mới và Hiệp định quản lý các cửa khẩu quốc tế.

Không thể nhân nhượng

Một số mạng nước ngoài tiếp tục đưa tin thất thiệt rằng Việt Nam đã bị mất đất. Thứ trưởng bình luận gì về ý kiến này?

Tôi đã có nhiều dịp phát biểu về vấn đề này. Hôm nay, tôi xin một lần nữa khẳng định rằng: chủ quyền lãnh thổ là vấn đề hết sức thiêng liêng đối với bất kỳ quốc gia nào, dân tộc nào. Đối với dân tộc Việt Nam thì vấn đề chủ quyền lãnh thổ lại càng thiêng liêng cao cả. Dân tộc ta từ nghìn xưa đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Gần tám thập kỷ qua, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, đã đi qua những cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, chịu đựng nhiều mất mát, hy sinh to lớn để giữ vững chủ quyền lãnh thổ của mảnh đất thân yêu này.

Trong đàm phán với Trung Quốc và các nước láng giềng khác cũng như trong quá trình PGCM trên thực địa, chúng ta đều đã thể hiện hết sức rõ ràng lập trường bất di bất dịch, đó là: chủ quyền lãnh thổ là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể nhân nhượng. Như trên tôi đã nói, do lịch sử để lại, có những khu vực quá canh, quá cư, Hai đoàn đàm phán đã nhất trí linh hoạt điều chỉnh trên cơ sở cân bằng lợi ích.

Vì vậy, không thể có chuyện “Việt Nam mất đất”, “cắt đất” cho nước này, nước kia như một số mạng nước ngoài đưa tin. Chỉ có thể giải thích rằng những mạng này hoặc do thiếu thông tin hoặc cố tình làm sai lệch thông tin vì những ý đồ khác nhau.

Ở đây, tôi xin nêu thêm một số thông tin về kết quả PGCM ở những khu vực mà mọi người quan tâm nhiều nhất:

Về khu vực Thác Bản Giốc: Thác Bản Giốc gồm 2 phần: phần thác phụ và phần thác chính. Phần thác phụ hoàn toàn thuộc phía VN, còn phần thác chính đổ thẳng xuống sông Quây Sơn là sông chung biên giới. Theo Hiệp ước 1999, đường biên giới sẽ được xác định theo nguyên tắc trung tuyến dòng chảy chính. Tại vòng họp này , ta và Trung Quốc đã thoả thuận đường đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính và sau đó dòng chảy chính trên sông Quây Sơn. Ta và Trung Quốc cũng nhất trí sẽ cùng hợp tác để phát triển tiềm năng du lịch, kinh tế tại khu vực thác Bản Giốc.

Về khu vực Hữu nghị quan: Theo các tài liệu lịch sử đang được lưu giữ, Trấn Nam Quan hay còn gọi là Ải Nam Quan đều nằm bên phía Trung Quốc, đường biên giới nằm phía nam Trấn Nam Quan. Theo “Đại Nam Nhất thống chí” , Trấn Nam Quan được xây dựng từ thời nhà Minh; sau đó, đời Nhà Thanh cho tu bổ lại vào năm 1726. Dấu tích lịch sử quan trọng của khu vực cửa khẩu Hữu nghị là mốc 19 cũ do Pháp Thanh cắm năm 1894. Vừa qua ta và Trung Quốc đã tiến hành cắm mốc 1117 trùng với vị trí mốc 19 cũ, đường biên giới đi qua Km số 0, mốc 19 cũ đến điểm cách điểm nối ray hiện tại 148m. Như vậy có thể khẳng định đường biên giới tại cửa khẩu Hữu nghị vừa được PGCM là phù hợp với lịch sử và thực tiễn quản lý ở khu vực này.

  • Xuân Linh - TTXVN